
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết, theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Việc làm 2013 thì mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng bằng 60% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp, của 6 tháng liền kề trước khi thất nghiệp.
Tuy nhiên, mức hưởng tối đa còn phụ thuộc vào khu vực hưởng. Trong đó, đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, tối đa không quá 5 lần mức lương cơ sở.
Năm 2024, mức lương cơ sở hiện đang được áp dụng là 1,8 triệu đồng/tháng theo Nghị định 24/2023/NĐ-CP. Như vậy, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng tối đa của năm 2024 ở khu vực này được tính như sau: 5 x 1,8 triệu đồng = 9 triệu đồng.
Đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, không quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng.
Theo Nghị định 38/2022/NĐ-CP, hiện mức lương tối thiểu tháng của người lao động làm việc trong doanh nghiệp ở vùng 1 là 4,68 triệu đồng; vùng 2 là 4,16 triệu, vùng 3 là 3,64 triệu và vùng 4 là 3,25 triệu.
Tương ứng mức hưởng trợ cấp thất nghiệp lần lượt là không quá 23,4 triệu đồng đối với vùng I; không quá 20,8 triệu đồng đối với vùng II; không quá 18,2 triệu đồng đối với vùng III; không quá 16,25 triệu đồng đối với vùng IV.
Theo đó, năm 2024, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp cao nhất là 23,4 triệu đồng/tháng đối với người lao động làm việc ở vùng I.
Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo số tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp. Cứ đóng đủ 12 tháng đến đủ 36 tháng thì được hưởng 3 tháng trợ cấp thất nghiệp. Sau đó, cứ đóng đủ thêm 12 tháng thì được hưởng thêm 1 tháng trợ cấp thất nghiệp, nhưng tối đa không quá 12 tháng.
Theo quy định của Luật Việc làm năm 2013, người lao động đang đóng bảo hiểm thất nghiệp được hưởng trợ cấp thất nghiệp khi có đủ các điều kiện, đó là: Chấm dứt hợp đồng lao động, hoặc hợp đồng làm việc, trừ các trường hợp: Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc trái pháp luật; hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hàng tháng.
Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động, hoặc hợp đồng làm việc đối với trường hợp hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc không xác định thời hạn, xác định thời hạn. Đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 12 tháng trở lên, trong thời gian 36 tháng trước khi chấm dứt hợp đồng lao động đối với trường hợp hợp đồng lao động theo mùa vụ, hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 3 tháng đến dưới 12 tháng.
Đã nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp tại trung tâm dịch vụ việc làm trong thời hạn 3 tháng, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc.
Chưa tìm được việc làm sau 15 ngày, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trừ các trường hợp: Thực hiện nghĩa vụ quân sự, nghĩa vụ công an; đi học tập có thời hạn từ đủ 12 tháng trở lên; chấp hành quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc; bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù; ra nước ngoài định cư, đi lao động ở nước ngoài theo hợp đồng; chết.
Thời điểm hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày thứ 16, kể từ ngày nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.
Thông tư số 15/2023/TT-BLĐTBXH của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15/2/2024 đã quy định, tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo tháng dương lịch.
Mỗi tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày người lao động bắt đầu hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại khoản 3 Điều 50 Luật Việc làm, đến ngày đó của tháng sau trừ 1 ngày.
Trường hợp tháng sau không có ngày tương ứng thì ngày kết thúc của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày cuối cùng của tháng đó.
Theo số liệu báo cáo của các Trung tâm dịch vụ việc làm, trong năm 2023, cả nước ghi nhận hơn 1,1 triệu người đến nộp hồ sơ hưởng trợ cấp thất nghiệp, tăng 12,2% so với cùng kỳ năm 2022. Số người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hơn 1,06 triệu người, tăng 9,5% so với cùng kỳ năm 2022.
Trong năm qua, đã có hơn 2,35 triệu người được tư vấn, giới thiệu việc làm, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2022.
Ngành chăn nuôi Việt Nam đang đứng trước yêu cầu phải chuyển đổi mạnh mẽ để thích ứng với những biến động của thị trường toàn cầu, biến đổi khí hậu và các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về môi trường, truy xuất nguồn gốc và phúc lợi động vật.
Việc triển khai hợp đồng lao động điện tử từ ngày 1/7/2026 không chỉ tạo thuận lợi cho người lao động và doanh nghiệp trong quá trình giao kết, thực hiện quan hệ lao động, mà còn nâng cao năng lực quản trị nhân sự dựa trên dữ liệu chuẩn xác...
Tại dự thảo lần 2, Bộ Y tế đã bỏ đề xuất công khai giá nhập khẩu thiết bị y tế. Để tránh tình trạng “thổi giá”, việc kiểm soát giá từ gốc được thực hiện bằng giải pháp khác như thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu nội bộ giữa cơ quan hải quan, thuế, y tế...
Bộ Y tế đang đề xuất Quỹ bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám sức khỏe định kỳ cho các đối tượng thuộc phạm vi chi trả của quỹ, với mức tối đa cho 1 lần khám với người trên 18 tuổi không vượt quá 350.000 đồng/người mỗi năm...
Từ quy định của Luật Việc làm 2025 và Nghị định số 352/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về dịch vụ việc làm, các tổ chức dịch vụ việc làm công đang bước vào cuộc chuyển mình để hướng tới chuyên nghiệp hóa hơn trong hoạt động. Tuy nhiên, để tạo đột phá, các giải pháp cần tập trung vào những trụ cột chính là con người, công nghệ và cơ chế chính sách…
Để du lịch chăm sóc sức khỏe Việt Nam không dừng lại ở tiềm năng, việc đồng bộ thể chế, tiêu chuẩn chất lượng và phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu là yêu cầu cấp thiết. Đây là những yếu tố quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh bền vững và tạo dựng bản sắc riêng cho dòng sản phẩm này…
Sau hơn nửa năm xung đột Mỹ - Iran, những kỳ vọng rằng căng thẳng sẽ sớm hạ nhiệt, eo biển Hormuz được khai thông và giá dầu trở lại vùng 70-80 USD/thùng đang gặp nhiều thách thức. Đầu tháng 9/2026, giá dầu Brent đã tiến sát 100 USD/thùng. Nhưng điều đáng chú ý không chỉ nằm ở con số này.