Ngành điều tìm cách chuyển lợi thế chế biến thành giá trị gia tăng

Việt Nam giữ vị trí hàng đầu thế giới về chế biến và xuất khẩu nhân điều, nhưng lợi thế về quy mô chưa đồng nghĩa với khả năng giữ lại giá trị tương xứng. Bài toán được đặt ra không chỉ là bảo đảm nguồn nguyên liệu, mà còn phải thay đổi cách tạo giá trị, từ công nghệ chế biến đến thị trường tiêu thụ...

Việt Nam giữ vị trí số 1 thế giới về chế biến và xuất khẩu nhân điều. Ảnh: Hiệp hội Điều Việt Nam.
Việt Nam giữ vị trí số 1 thế giới về chế biến và xuất khẩu nhân điều. Ảnh: Hiệp hội Điều Việt Nam.

Hội nghị Điều quốc tế Việt Nam lần thứ 15 năm 2026 diễn ra mới đây tại TP. Hồ Chí Minh, do Hiệp hội Điều Việt Nam (Vinacas) phối hợp với Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Công Thương) tổ chức với chủ đề “Từ nguyên liệu đến giá trị gia tăng - Kết nối chuỗi giá trị và định hình tương lai chuỗi cung ứng điều toàn cầu”, đã nêu ra yêu cầu chuyển đổi của ngành hàng có kim ngạch xuất khẩu hàng tỷ USD mỗi năm, trong bối cảnh cạnh tranh và rủi ro nguồn cung ngày càng gia tăng.

TỪ QUY MÔ XUẤT KHẨU ĐẾN KHẢ NĂNG TẠO GIÁ TRỊ

Theo báo cáo của Vinacas tại hội nghị, năm 2025, Việt Nam xuất khẩu khoảng 798.000 tấn nhân điều, đạt kim ngạch hơn 5,4 tỷ USD, mức cao nhất từ trước đến nay và tiếp tục là trung tâm chế biến và xuất khẩu nhân điều lớn của thế giới, chiếm hơn 80% lượng nhân điều xuất khẩu toàn cầu.

Tuy nhiên, quy mô xuất khẩu lớn chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả kinh tế mà doanh nghiệp giữ lại. Hoạt động chế biến điều trong nước vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn điều thô nhập khẩu, trong khi giá nguyên liệu, vận tải, logistics và chi phí tài chính biến động. Khi đầu vào tăng nhanh nhưng giá bán đầu ra không tăng tương ứng, biên lợi nhuận của doanh nghiệp bị thu hẹp.

Theo số liệu được Vinacas công bố, trong 9 tháng đầu năm 2026, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 2,77 triệu tấn điều thô, trị giá trên 4,43 tỷ USD. Mức độ phụ thuộc này khiến hoạt động chế biến trong nước chịu ảnh hưởng trực tiếp từ mùa vụ, chính sách thương mại và định hướng phát triển công nghiệp chế biến tại các quốc gia cung ứng nguyên liệu.

Ở chiều ngược lại, kim ngạch xuất khẩu nhân điều đã vượt 4,2 tỷ USD. Trung Quốc và Hoa Kỳ là hai thị trường nhập khẩu lớn nhất, lần lượt chiếm 21,6% và 15,2%. Ngành đặt mục tiêu cả năm 2026 xuất khẩu 800.000 tấn nhân điều, đạt kim ngạch 5 tỷ USD.

Những con số trên cho thấy ngành điều có nền tảng thị trường lớn, nhưng đồng thời phải xử lý bài toán cân đối giữa nguồn nguyên liệu và năng lực tiêu thụ. Việc tiếp tục tăng sản lượng xuất khẩu không tự động giúp doanh nghiệp cải thiện hiệu quả nếu phần lớn hoạt động vẫn tập trung vào chế biến nhân điều để cung cấp cho các khâu tiếp theo trong chuỗi thương mại.

Hướng chuyển dịch sang chế biến sâu được đặt ra như một yêu cầu phát triển, thay vì chỉ là lựa chọn mở rộng danh mục sản phẩm. Các sản phẩm rang, tẩm gia vị, phối trộn hạt, đồ ăn nhẹ hoặc nguyên liệu phục vụ công nghiệp thực phẩm có thể mở rộng cách sử dụng hạt điều và tiếp cận thêm nhóm khách hàng. Tuy nhiên, khả năng gia tăng giá trị còn phụ thuộc vào nhu cầu thực tế, tiêu chuẩn chất lượng, chi phí sản xuất và năng lực đưa sản phẩm đến người mua cuối cùng.

KẾT NỐI CÔNG NGHỆ, SẢN PHẨM VÀ THỊ TRƯỜNG

Một điểm mới của hội nghị ngành điều lần này là dành phiên thảo luận riêng cho chế biến sâu, máy móc và thiết bị. Nội dung này mở rộng phạm vi trao đổi vốn tập trung nhiều vào thị trường điều nhân xuất khẩu và điều thô nhập khẩu, hướng sự chú ý đến năng lực công nghệ và các khâu tạo giá trị sau chế biến.

Một điểm mới của hội nghị ngành điều lần này là dành phiên thảo luận riêng cho chế biến sâu, máy móc và thiết bị. Ảnh: Thanh Sơn.
Một điểm mới của hội nghị ngành điều lần này là dành phiên thảo luận riêng cho chế biến sâu, máy móc và thiết bị. Ảnh: Thanh Sơn.

Đầu tư công nghệ có thể giúp doanh nghiệp nâng cao năng suất, kiểm soát chất lượng, giảm hao hụt và phát triển sản phẩm theo yêu cầu của từng thị trường. Nhưng thiết bị hiện đại chỉ phát huy hiệu quả khi gắn với chiến lược sản phẩm và đầu ra.

Nói cách khác, nếu doanh nghiệp chưa xác định rõ phân khúc khách hàng, tiêu chuẩn cần đáp ứng và kênh phân phối, chi phí đầu tư có thể làm tăng áp lực tài chính mà chưa tạo ra doanh thu tương ứng.

Ông Bạch Khánh Nhựt, Phó Chủ tịch Vinacas, cho rằng để đưa sản phẩm chế biến sâu ra thị trường, doanh nghiệp cần xác định trước đối tượng khách hàng và kênh phân phối. Theo ông, Vinacas cũng đề cập hướng tiếp cận hệ thống siêu thị trong nước, trong đó có Saigon Coop, đồng thời tạo cơ hội để doanh nghiệp gặp gỡ thêm đối tác quốc tế.

Lãnh đạo Vinacas cũng cho rằng nâng giá trị không chỉ là câu chuyện của nhà máy. Doanh nghiệp cần kết nối với nhà phân phối, nắm bắt xu hướng tiêu dùng và phát triển sản phẩm phù hợp với nhu cầu thị trường. Khi tiếp cận trực tiếp hơn các kênh tiêu thụ, doanh nghiệp có thêm cơ hội xây dựng thương hiệu và chủ động hơn trong chiến lược kinh doanh, dù việc mở rộng thị trường vẫn đòi hỏi nguồn lực, hệ thống phân phối và khả năng đáp ứng tiêu chuẩn.

Ở cấp độ toàn chuỗi, khả năng chủ động nguyên liệu cũng cần được đặt trong mối liên kết giữa vùng trồng, nhà cung cấp và nhà chế biến. Nguồn cung ổn định, chất lượng đồng đều và thông tin thị trường minh bạch giúp các bên xây dựng kế hoạch sản xuất, hạn chế rủi ro khi giá cả biến động.

Trong dài hạn, việc nâng năng suất vùng điều trong nước và hợp tác với các quốc gia cung ứng nguyên liệu có thể góp phần đa dạng hóa nguồn cung, giảm sức ép lên doanh nghiệp chế biến.

Các yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững cũng ngày càng gắn với khả năng tiếp cận thị trường. Vì vậy, kết nối chuỗi cung ứng không chỉ nhằm bảo đảm dòng nguyên liệu lưu chuyển mà còn phải giúp các bên đáp ứng yêu cầu của người mua và chia sẻ thông tin về chất lượng, nhu cầu, giá cả.

Với ngành điều Việt Nam, thách thức trong giai đoạn tới là chuyển lợi thế chế biến và xuất khẩu thành năng lực tạo giá trị cao hơn trên mỗi sản phẩm. Điều đó đòi hỏi công nghệ, phát triển sản phẩm, thị trường và nguồn nguyên liệu phải được tính toán đồng bộ, thay vì triển khai riêng lẻ ở từng khâu.

Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy