Trong báo cáo triển vọng thị trường năm 2023, các chuyên gia của FiinGroup đã chỉ ra 5 vấn đề mà ngành ngân hàng phải đối mặt.
Thứ nhất, mặt bằng lãi suất vẫn ở mức cao, nhất là huy động tiền gửi. Điều này tạo áp lực lên việc duy trì tỷ lệ th nhập lãi thuần (NIM) ở mức như hiện nay. Mặt bằng lãi suất cao cũng thể hiện ở lợi tức hay lãi suất trái phiếu chính phủ hiện đã tăng gần 80-100 điểm cơ bản (bsp), từ đó tạo áp lực lên thu nhập từ hoạt động đầu tư, mặc dù về hạch toán kế toán thì hầu hết danh mục đầu tư hiện chưa phản ánh theo giá thị trường.
Thứ hai, thu nhập hoạt động dịch vụ phi tín dụng, chủ yếu là bán chéo bảo hiểm, mặc dù đã tăng trưởng mạnh và chiếm khoảng 18,6% tổng thu nhập nhưng hiện không còn dồi dào như mấy năm trước.
Thứ ba, áp lực về đẩy mạnh cho vay do thị trường bất động sản (hiện chiếm khoảng 20% tổng tín dụng) đang gặp khó và thanh khoản chung của nền kinh tế đang bị “nghẽn” ở lĩnh vực bất động sản. Tăng trưởng tín dụng năm 2022 ( 14,5%) thấp hơn hạn mức cho phép ( 16%).
Thứ tư, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đang tăng lên do nhiều khoản cho vay với bất động sản có thể trở thành nợ xấu nếu tín dụng vào lĩnh vực này tiếp tục bị thắt chặt.
Thứ năm là rủi ro nợ xấu (NPL) từ trái phiếu doanh nghiệp. Trái phiếu doanh nghiệp phi ngân hàng hiện chiếm tỷ trọng không quá lớn, khoảng 7,6% tổng dư nợ tín dụng ở hệ thống ngân hàng tại thời điểm cuối tháng 10/2022. Trong đó, riêng trái phiếu bất động sản chiếm 3,8%. Tuy nhiên, do môi trường lãi suất cao và nhiều dự án gặp khó về vấn đề pháp lý, triển vọng ngành bất động sản hiện nay kém tích cực, góp phần tăng nợ xấu chéo sang tín dụng ngân hàng khi có nhiều doanh nghiệp vi phạm nghĩa vụ nợ trái phiếu.
Bên cạnh đó, hệ lụy từ thị trường trái phiếu doanh nghiệp và chủ trương của Ngân hàng Nhà nước hạn chế cho vay vào lĩnh vực phi sản xuất (bao gồm bất động sản), sẽ khiến nhiều chủ đầu tư bất động sản gặp khó về dòng tiền và có thể giãn lịch trả lãi/trả nợ vay. Rủi ro này chưa được phản ánh vào mức tăng NPL trong quý 3 và do đó tiềm ẩn nguy cơ nợ xấu tăng trong các quý tiếp theo, khiến chất lượng tài sản suy giảm và tạo áp lực lên tăng trưởng lợi nhuận phía trước của các ngân hàng, đặc biệt là ở một số ngân hàng có tỷ lệ nắm giữ trái phiếu doanh nghiệp và cho vay lĩnh vực bất động sản ở mức cao.
Theo thống kê của FiinGroup, trong quý 3/2022, NIM đạt 3,83%, mức cao nhất kể từ sau khi COVID-19 xuất hiện và tăng 11 bsp so với quý 2 trước đó.
NIM cải thiện mạnh ở nhóm ngân hàng có tỷ lệ trái phiếu doanh nghiệp/tổng dư nợ tín dụng ở mức thấp (bao gồm VietcomBank, VietinBank, ACB, SacomBank) và yếu đi ở nhóm có tỷ lệ trái phiếu doanh nghiệp/dư nợ tín dụng và/hoặc tỷ trọng cho vay bất đống ản ở mức tương đối cao (bao gồm TechcomBank, HDBank, MBBank, TPBank).
Điểm đáng chú ý đó là, để cải thiện NIM hoặc hạn chế NIM suy giảm, hầu hết các ngân hàng đã nỗ lực kiểm soát chi phí vốn bằng cách nâng tỷ lệ dư nợ cho vay/huy động (LDR). Tại thời điểm cuối quý 3, tỷ lệ LDR thuần của 27 ngân hàng niêm yết ở mức 106%, tăng mạnh so với mức bình quân 95% trước đó, và nhờ vậy, chi phí vốn chỉ tăng 200bps so với quý trước, thấp hơn nhiều so với mức tăng 520bps về lãi suất cho vay và 400bps về lãi suất huy động.
Đây cũng là chỉ báo cho thấy xu hướng giảm của NIM trong các quý tới, đặc biệt là ở những ngân hàng vay mượn nhiều trên thị trường liên ngân hàng (bao gồm TechcomBank, TPBank, VPBank, MSB, HDBank). Chi phí vốn dự kiến tăng mạnh vì (i) không còn dư địa nâng LDR do tỷ lệ này đã chạm giới hạn được phép khi huy động tăng thấp hơn đáng kể so với tăng trưởng tín dụng và (ii) lãi suất huy động gần đây tăng mạnh, khoảng 500bps so với nửa đầu năm, do hệ lụy từ động thái tăng lãi suất nhanh với biên độ mạnh của FED.
Hầu hết các ngân hàng tầm trung trở lên có LDR thuần tăng cao và vượt 95%, cho thấy tình trạng căng thẳng về thanh khoản trong hệ thống đang hạn chế khả năng đẩy mạnh hoạt động cho vay ở nhiều ngân hàng cho dù có thêm hạn mức tín dụng từ Ngân hàng Nhà nước.
Điều này xuất phát từ thực trạng dòng tiền bị tắc nghẽn ở lĩnh vực bất động sản, làm cho vòng quay tiền chậm lại và huy động tiền gửi ở hệ thống ngân hàng tăng thấp hơn đáng kể so với mức tăng trưởng tín dụng trong năm 2022 ( 10,4% so với 14,5%).
NPL tăng mạnh trong quý 3/2022, 11bps lên mức 1,60% và tăng tới 10bps lên mức 1,90% nếu bao gồm trái phiếu VAMC, nhưng tỷ lệ NPL này vẫn thấp hơn so với giai đoạn trước khi COVID xuất hiện.
Tỷ lệ tạo mới nợ xấu dương 3 quý liên tiếp cho thấy nợ xấu đang tăng lên, chủ yếu ghi nhận ở 3 ngân hàng có vốn nhà nước (VietcomBank, BIDV, VietinBank) và một vài ngân hàng cổ phần (ACB, NAB, NVB). Ngược lại, một số ngân hàng có tỷ lệ tạo mới nợ xấu tăng rất thấp hay thậm chí giảm, bao gồm TechcomBank, SHB, VPBank và MBBank.
Điểm tích cực là tỷ lệ bao phủ nợ xấu (LLCR) cho quý 3/2022 vẫn ở mức cao (143,2%) mặc dù giảm nhẹ so với quý 2, cho thấy các ngân hàng vẫn có bộ đệm về dự phòng khá vững chắc để xử lý nợ xấu. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu cao xuất hiện ở các ngân hàng: VietcomBank, MBBank, VietinBank, BIDV, TechcomBank, thể hiện nguồn lực vững chắc để xử lý nợ xấu.
Đối với những ngân hàng có tỷ lệ LLCR thấp, bao gồm EximBank, OCB và SHB, sẽ có nguồn lực hạn chế hơn trong việc xử lý nợ xấu.
Giá vàng miếng SJC tại các hệ thống lớn tăng phổ biến 3 phiên liên tiếp (29/9 – 1/10), chênh lệch giá mua, bán vàng miếng SJC trong phiên 1/10 giá chủ yếu ở mức 3 triệu đồng/lượng. Riêng một đơn vị, mức chênh lệch này nới rộng lên mức 4,5 triệu đồng/lượng cho thấy rủi ro nghiêng hẳn về phía người mua…
Nhưng thị trường không vì thế mà cho rằng ngân hàng trung ương này chỉ nâng lãi suất một lần rồi thôi...
Giá vàng thế giới đi xuống trong phiên giao dịch ngày thứ Tư (30/9), hoàn tất một tháng giảm sâu, dù số liệu lạm phát yếu hơn kỳ vọng của Mỹ khiến kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất trong tháng 10 sụt mạnh...
Từ ngày 1/10, chính sách thuế nhập khẩu ưu đãi đối với xăng, dầu và nhiên liệu bay tiếp tục được duy trì đến hết năm 2026, với mức áp dụng là 0% nhằm giảm chi phí đầu vào, hỗ trợ ổn định nguồn cung và hạn chế tác động của giá dầu thế giới…
Trong phiên 30/9, giá mua vàng miếng SJC phổ biến ở mức 141,1 triệu – 144,1 triệu đồng/lượng. So với giá bán thời điểm đầu tháng (148,4 triệu đồng/lượng), người mua thiệt tới 7,3 triệu đồng/lượng. Với vàng nhẫn “4 số 9”, mức thiệt còn lớn hơn, dao động từ 7,2 triệu – 9,7 triệu đồng/lượng…
Sau hơn 20 năm, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã vươn lên và nằm trong nhóm những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở khâu sản xuất, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường còn hạn chế. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành cần chuyển từ thích ứng sang chủ động kiến tạo và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.
Sở Giao dịch Chứng khoán TP Hồ Chí Minh (HOSE) cảnh báo nhà đầu tư và người dân về việc một số đối tượng đang giả mạo HOSE, sử dụng trái phép tên, hình ảnh và logo của HOSE.