Nhìn lại lạm phát tại Mỹ vào các năm thay chủ tịch Fed

Hoài Thu

02/06/2026, 18:13

Vào tháng trước, ông Kevin Warsh tiếp quản vị trí Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) trong bối cảnh số liệu lạm phát mới nhất của Mỹ - tháng 4/2026 - ở mức 3,8% so với cùng kỳ năm trước. Nhìn chung, đây không phải là một con số quá cao. Nhưng nếu đặt trong hơn 110 năm lịch sử Fed, đây lại là điểm khởi đầu rất đáng lưu tâm đối với một Chủ tịch Fed mới.

Dựa trên dữ liệu dữ liệu từ Ngân hàng Dự trữ Liên bang Minneapolis và Ngân hàng Dự trữ Liên bang St. Louis, đồ họa thông tin dưới đây thống kê tỷ lệ lạm phát trong năm các Chủ tịch Fed rời nhiệm sở, từ ông Charles S. Hamlin năm 1916 đến ông Jerome Powell năm 2026.

Dữ liệu này cho thấy ông Warsh là Chủ tịch Fed mới đầu tiên kể từ thời ông Paul Volcker năm 1979 bước vào nhiệm kỳ khi lạm phát ở mức cao như hiện nay.

VnEconomy

Sau khi được Thượng viện Mỹ phê chuẩn giữ chức Chủ tịch Fed với 54 phiếu thuận và 45 phiếu chống, ông Warsh tuyên thệ nhậm chức vào ngày 22/5/2026. Ông bước vào nhiệm kỳ với cam kết thúc đẩy những thay đổi căn bản trong cách Fed vận hành. Tuy nhiên, các số liệu lịch sử cho thấy thách thức trước mắt của ông rất rõ ràng: lạm phát hiện ở mức cao hơn đáng kể so với mặt bằng trong các lần chuyển giao vị trí Chủ tịch Fed suốt nhiều thập kỷ gần đây.

Nhìn lại lịch sử Fed, lạm phát trong các năm thay Chủ tịch Fed từng biến động rất mạnh, từ giảm phát sâu đến lạm phát hai chữ số.

Ông Charles S. Hamlin rời nhiệm sở năm 1916, khi lạm phát Mỹ ở mức 7,7%. Sau đó, một số Chủ tịch Fed rời vị trí trong giai đoạn kinh tế rơi vào giảm phát.

Sau ông Hamlin, một số lần thay Chủ tịch Fed diễn ra trong môi trường giảm phát, tức mặt bằng giá tiêu dùng giảm so với cùng kỳ năm trước. Ông W.P.G. Harding rời nhiệm sở năm 1922, khi Mỹ ghi nhận giảm phát 6,2%. Tương tự, ông Daniel R. Crissinger rời nhiệm sở năm 1927, khi giá tiêu dùng giảm 1,9%; ông Roy A. Young rời vị trí năm 1930, khi giá tiêu dùng giảm 2,7%; và ông Eugene Meyer rời nhiệm sở năm 1933, khi mức giảm là 5,2%. Đến năm 1934, khi ông Eugene R. Black rời Fed, lạm phát đã quay trở lại mức dương với 3,5%.

Các lần chuyển giao sau đó diễn ra trong môi trường lạm phát cao hơn. Ông Marriner S. Eccles rời nhiệm sở năm 1948, khi lạm phát ở mức 7,7%. Ông Thomas B. McCabe rời vị trí năm 1951 với lạm phát 7,9%. Đến năm 1970, ông William McChesney Martin Jr. rời Fed khi lạm phát ở mức 5,8%. 8 năm sau đó, ông Arthur F. Burns rời nhiệm sở với mức 7,6%.

Giai đoạn căng thẳng nhất xuất hiện vào cuối thập niên 1970. Ông G. William Miller rời chức Chủ tịch Fed năm 1979, khi lạm phát lên tới 11,3% - mức cao nhất trong toàn bộ dữ liệu. Ông Miller chỉ giữ vị trí này trong 17 tháng. Đây cũng là bối cảnh ông Volcker đối mặt khi tiếp quản Fed năm 1979. Khi ông Volcker rời nhiệm sở vào năm 1987, lạm phát giảm còn 3,7%.

Sau thời ông Volcker, các lần chuyển giao vị trí Chủ tịch Fed diễn ra trong môi trường ổn định hơn nhiều. Từ năm 1987 đến nay, tất cả các Chủ tịch Fed rời nhiệm sở đều ghi nhận mức lạm phát trong khoảng 1,6-3,2%. Ông Alan Greenspan rời Fed năm 2006 với lạm phát 3,2%, ông Ben Bernanke rời nhiệm sở năm 2014 với mức 1,6%, còn bà Janet Yellen rời vị trí năm 2018 với mức 2,4%.

Trường hợp của ông Jerome Powell cần được nhìn nhận riêng. Theo số liệu mới nhất được cập nhật trong đồ họa, lạm phát Mỹ tháng 4/2026 ở mức 3,8% khi ông rời ghế Chủ tịch Fed. Mức này cao hơn mặt bằng trong các lần chuyển giao vị trí Chủ tịch Fed suốt nhiều thập kỷ gần đây, đồng thời trở thành điểm khởi đầu mà ông Warsh phải tiếp nhận.

Đặt trong lịch sử Fed, con số này cho thấy ông Warsh bước vào nhiệm kỳ với áp lực giá cả cao nhất đối với một Chủ tịch Fed mới kể từ thời ông Volcker năm 1979, đồng thời phá vỡ mô hình chuyển giao tương đối ổn định của Fed trong nhiều thập kỷ gần đây.

Asko AI Platform

Askonomy AI

...

icon

Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?

Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính:

VnEconomy