
Theo báo cáo tổng quan thị trường công trình xanh Việt Nam năm 2024 do hệ thống chứng nhận Edge và Tổ chức tài chính quốc tế IFC, thành viên của Ngân hàng thế giới (World Bank) vừa phát hành, đến nay Việt Nam có 559 công trình được chứng nhận xanh. Con số này vượt xa mục tiêu đặt ra trước đó (80 công trình xanh năm 2025 và 150 vào năm 2030) tại Quyết định số 280/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.
Cụ thể, Việt Nam có 13,579,588 m2 sàn xây dựng đã đạt chứng chỉ Công trình Xanh theo các chứng chỉ phổ biến như EDGE, LEED, và Green Mark. Việt Nam cũng có 31.384 căn hộ và 3.234 nhà ở riêng lẻ đạt chứng nhận Xanh.
Trong số đó, Chứng chỉ EDGE (Excellence in Design for Greater Efficiencies), chiếm tỷ lệ lớn nhất (41,80%) tổng số lượng công trình xanh, có 258 dự án, chiếm với 5.687.647 m2 sàn xây dựng đạt chứng nhận.
Tiếp đó là Chứng chỉ LEED (Leadership in Energy and Environmental Design) có 208 dự án, chiếm 39,48% tổng số lượng công trình xanh, với 5.354.195 m2 sàn xây dựng đạt chứng nhận. Chứng nhận Green Mark chiếm 14,18% tổng số công trình xanh.
Đặc biệt, năm 2024 ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ của công trình xanh tại Việt Nam, với 163 công trình, gấp hơn 2 lần so với năm 2023, và gấp 3 lần so với năm 2022 (có 54 công trình).
Qua thống kê cho thấy, số lượng công trình đạt chứng nhận xanh ở Việt Nam trong 14 năm qua liên tục tăng. Nếu như những năm 2010, 2011, mỗi năm chỉ có 1 công trình được chứng nhận thì đến năm 2012, con số này đã tăng lên 20 công trình. Số lượng công trình đạt chứng nhận xanh tiếp tục tăng mạnh từ năm 2017 (có 26 công trình), thêm 58 công trình vào năm 2020 và tăng thêm 76 công trình vào năm 2023.
Cũng theo báo cáo này, 10 địa phương có nhiều diện tích sàn đạt chứng nhận xanh nhất là Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hưng Yên, Đồng Nai, Hà Nam, Long An và Bình Định.
Cụ thể, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích sàn đạt chứng nhận xanh cao nhất, với 3,406,387 m2, tiếp đó là Hà Nội với 2,161,328 m2, và Bình Dương với 1,589,517 m2 sàn xây dựng. Bắc Ninh và Hải Phòng xếp thứ 4 và 5 với diện tích sàn đạt chứng nhận xanh là 848.249 m2 và 844.632 m2.
Từ thực tế tăng trưởng của loại hình nhà ở xanh cho thấy, đa phần đều thuộc nhóm chung cư xanh (chiếm hơn 80% tổng diện tích sàn nhà ở xanh đạt chứng nhận), loại hình nhà ở thấp tầng xanh chiếm 20% tổng diện tích sàn nhà ở xanh đạt chứng nhận.
Điểm rõ nhất là sự góp mặt của nhóm nhà ở thấp tầng xanh trong khoảng 3 năm gần đây (từ 2022- 2024), trong khi loại hình chung cư xanh vẫn đóng góp vào tăng trưởng hàng năm của thị trường nhưng đang có dấu hiệu giảm trong khoảng 4 năm trở lại đây do các tác động tiêu cực và ảnh hưởng chung lên thị trường bất động sản.
Tuy nhiên, tình trạng này đang trên đà phục hồi khi năm 2024 ghi nhận lượng diện tích sàn chung cư xanh xấp xỉ mức đỉnh của năm 2019 và 2020.
Điểm đáng chú ý là các công trình công nghiệp xanh được ghi nhận tăng trưởng rõ rệt và mạnh mẽ trong 2 năm qua (2023, 2024) khi đặc biệt có sự tham gia của loại hình nhà kho xanh (warehouse), song song với sự phát triển đều của mảng nhà máy (Industrial Factory).
Trong năm nay, mảng công nghiệp xanh (bao gồm nhà máy, nhà kho, và nhà xưởng) chiếm đến 56.45%, theo sau là mảng văn phòng xanh (chiếm 15.61%) và mảng chung cư xanh (chiếm 14.15%).
Theo phân tích của chuyên gia nghiên cứu, việc dịch chuyển hoạt động sản xuất sang Việt Nam cũng như đẩy mạnh công nghiệp hóa, mở rộng sản xuất và kho vận tại Việt Nam là lý do chính cho việc các công trình công nghiệp xanh tăng trưởng mạnh.
Với loại hình văn phòng xanh, năm 2024 với quy mô dự án văn phòng đạt chứng nhận xanh nhiều nhất từ trước đến nay. Loại hình bán lẻ đặc biệt gây được sự chú ý khi bắt đầu có đóng góp tương đối trong khoảng năm 2022-2024, khi các chuỗi bán lẻ đang tìm cách xanh hóa các dự án của mình. Điều này tương tự như loại hình công trình giáo dục, khi bắt đầu có sự gia tăng của các dự án trường học xanh, đại học xanh tại Việt Nam tiếp cận các chứng nhận công trình xanh.
Loại hình công trình lưu trú, nghỉ dưỡng xanh vẫn giữ mức tăng ổn định và đều trong 4 năm qua, sau năm 2020 đã lập đỉnh.
Ngoài ra, báo cáo cũng chỉ rõ trong năm 2024 đó là việc triển khai Chỉ số Chống chịu thiên tai cho công trình (BRI) tại Việt Nam đã đánh dấu một cột mốc quan trọng, thu hút sự chú ý từ các bên liên quan trong lĩnh vực xây dựng và bất động sản. Sáng kiến này đã thành công trong việc thẩm định tổng cộng 343.911 m2 của năm dự án, bao gồm khi nghỉ dưỡng, nhà máy, cơ sở giáo dục và cảng biển.
Một thành tựu quan trọng đó là mức tổn thất tối đa có thể (PML) được tính toán 222 triệu USD khẳng định tầm quan trọng của việc lập kế hoạch chống chịu thiên tai. Sự thành công của BRI qua việc có 8 nhà phát triển đã, đang và sắp áp dụng các biện pháp chống chịu vào dự án của mình.
Theo các chuyên gia, khi Việt Nam tiếp tục đô thị hóa, chỉ số BRI sẽ thúc đẩy các thực hành xây dựng bền vững, đặt nền tảng vững chắc cho sự phát triển trong tương lai của cơ sở hạ tầng chống chịu thiên tai. Điều này sẽ định vị Việt Nam là thị trường tích cực trong việc lập kế hoạch chống chịu, mang lại cơ hội cho các nhà đầu tư và các tổ chức tài chính hỗ trợ các dự án bền vững, liên quan đến khí hậu.
Theo Nghị định 15 năm 2021, công trình xanh được quy định từ thiết kế, xây dựng đến vận hành đáp ứng các tiêu chí, tiêu chuẩn về hiệu quả năng lượng, tiết kiệm tài nguyên, đảm bảo chất lượng môi trường sống và bảo vệ môi trường.
Các dự án xanh sẽ đóng góp vào mục tiêu giảm 74,3 triệu tấn CO2 đến năm 2030 theo cam kết trong Đóng góp tự quyết định (NDC) của Việt Nam với ngành xây dựng, tiến tới phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050.
Để được công nhận là công trình xanh, ngoài các tiêu chí bền vững về xây dựng thiết kế, vật liệu thi công, các dự án cần phải đáp ứng hiệu suất môi trường, vận hành tiết kiệm năng lượng.
Theo tính toán, các công trình xanh sẽ tiết kiệm cho chủ đầu tư từ 20-40% chi phí vận hành mỗi tháng nhờ thiết kế thông minh, quy trình vận hành được tính toán kỹ. Nhờ vậy, công trình xanh của chung cư còn giúp người sử dụng tiết kiệm nhiều chi phí sinh hoạt từ điện, nước tới các dịch vụ công cộng khác...
Ban Quản lý rừng phòng hộ Đà Nẵng công bố kế hoạch cho thuê môi trường rừng để phát triển cây Sâm Ngọc Linh và các loại dược liệu khác trong giai đoạn 2026-2035. Đây là một phần trong nỗ lực phát triển kinh tế dưới tán rừng và bảo vệ môi trường bền vững trên địa bàn của 05 xã: Nam Trà My, Trà Tập, Trà Vân, Trà Leng và Trà Linh...
Trong tháng 10/2026 ghi nhận 61 trạm có nhiệt độ cao nhất tuyệt đối ngày đạt và vượt giá trị lịch sử, đồng thời có 98 trạm khí tượng có nhiệt độ trung bình tháng đạt và vượt giá trị lịch sử cùng thời kỳ. Dự báo từ tháng 11/2026-1/2027, nhiệt độ trung bình cả nước phổ biến cao hơn trung bình nhiều năm; không khí lạnh có khả năng hoạt động yếu hơn và rét đậm, rét hại xuất hiện muộn hơn với số ngày phổ biến thấp hơn...
Dự kiến chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp sẽ được hỗ trợ kỹ thuật đánh giá mức độ sẵn sàng, khả năng đáp ứng tiêu chí sinh thái, kế hoạch hành động, kiểm toán năng lượng, nước, đánh giá hiệu quả sử dụng tài nguyên, sản xuất sạch hơn, kiểm kê khí nhà kính và lập hồ sơ đề nghị chứng nhận khu công nghiệp sinh thái...
Công nghệ thu giữ, sử dụng và lưu trữ CO2 (CCUS) đang nổi lên như một giải pháp tiềm năng trong nỗ lực giảm phát thải khí nhà kính, đặc biệt đối với các ngành công nghiệp khó cắt giảm phát thải. Tại Việt Nam, CCUS không chỉ mở ra hướng tiếp cận mới mà còn góp phần thúc đẩy hiện thực hóa mục tiêu phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050. Tuy nhiên, để triển khai công nghệ này, Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức về cơ chế, chính sách, công nghệ, hạ tầng và nguồn lực đầu tư...
Hiện nay, nước sạch ở Việt Nam là loại hàng hóa rẻ nhất khi tính theo khối lượng. Trong khi đó, mức phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt chỉ là 10% giá bán nước sạch. Phí bảo vệ môi trường trong giá nước sạch thấp khiến cho ngân sách nhà nước phải chi trả hầu như toàn bộ chi phí cho hệ thống tiêu thoát, xử lý nước thải và tình trạng ngập lụt ở nhiều đô thị rất nặng nề…
Từ những công trình kiến trúc cổ kính đến không gian Hoàng cung được tái hiện bằng công nghệ số, di sản Huế đang được kể lại bằng ngôn ngữ mới, đưa những câu chuyện lịch sử đến gần hơn với thế hệ trẻ.
Ngành dầu khí Việt Nam đang đối mặt với những thách thức mang tính cơ cấu. Nhiều mỏ chủ lực đã bước vào giai đoạn suy giảm sản lượng tự nhiên sau nhiều thập kỷ khai thác. Vậy đâu là hướng đi để ngành dầu khí vừa bảo đảm an ninh năng lượng, vừa tạo động lực tăng trưởng bền vững trong kỷ nguyên xanh?