Chiến lược dữ liệu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu phát triển kinh tế dữ liệu, công nghiệp dữ liệu và thị trường dữ liệu.
Trong đó, đến năm 2030, đưa vào vận hành tối thiểu 5 sàn dữ liệu, phát triển ít nhất 1.000 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ dữ liệu, phân tích dữ liệu, nền tảng dữ liệu, sản phẩm, dịch vụ dữ liệu và trí tuệ nhân tạo.
Trao đổi với VnEconomy bên lề CRIF Forum Vietnam 2026, ông Nguyễn Minh Tú, Tổng Giám đốc CRIF D&B Việt Nam, nhận định hệ sinh thái dữ liệu Việt Nam hiện vẫn còn thiếu những lớp trung gian có khả năng làm sạch, chuẩn hóa, phân tích và đóng gói dữ liệu thành các sản phẩm có giá trị sử dụng. Bên cạnh đó, hạ tầng kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các bên cũng chưa thực sự liền mạch.
Việt Nam đã có các quy định để quản lý dữ liệu, về sàn giao dịch dữ liệu, vậy ông đánh giá như thế nào về các mắt xích trong hệ sinh thái dữ liệu của Việt Nam hiện nay?
Nhìn thuần túy từ góc độ vận hành thị trường, hệ sinh thái dữ liệu của Việt Nam hiện nay phát triển chưa thực sự đồng đều giữa các mắt xích. Ở đầu cung, các bên nắm giữ dữ liệu thô có nguồn thông tin rất dồi dào, nhưng dữ liệu phần lớn vẫn nằm rải rác ở từng đơn vị riêng lẻ và chưa có nhiều cơ chế thương mại hóa tập trung, cụ thể.
Mắt xích ngay sau đó là các đơn vị xử lý và cung cấp dữ liệu thì còn tương đối mỏng: thị trường cần nhiều hơn nữa những đơn vị trung gian chuyên nghiệp, đủ năng lực làm sạch, chuẩn hóa và đóng gói dữ liệu thô thành các sản phẩm phân tích có giá trị sử dụng thực tế.
Về hạ tầng kết nối kỹ thuật, việc truyền dẫn và chia sẻ dữ liệu tự động giữa các bên, chẳng hạn qua Open API, vẫn đang ở những bước đầu hoàn thiện, nên dòng chảy thông tin chưa thực sự liền mạch.
Ở đầu cầu, nhu cầu của doanh nghiệp, ngân hàng và nhà đầu tư là rất lớn, song do thiếu nguồn thông tin đã được kiểm chuẩn sẵn, họ vẫn phải tốn nhiều thời gian tìm kiếm dữ liệu và đối soát thủ công. Nói cách khác, cả cung và cầu đều đã hình thành; điều còn thiếu là lớp trung gian xử lý và hạ tầng kết nối để hai đầu gặp nhau một cách hiệu quả.
Vậy riêng về thị trường, cần một kiến trúc vận hành thế nào để dữ liệu như thế nào để dữ liệu có thể được chia sẻ, định giá một cách hiệu quả, bền vững?
Nếu xem dữ liệu là yếu tố sản xuất ngang hàng với vốn, đất đai hay lao động, thì một "chợ" muốn mở ra buôn bán được bắt buộc phải hội đủ bốn điều kiện cốt lõi.
Điều kiện đầu tiên là sản phẩm: dữ liệu thô phải được làm sạch và đóng gói thành các sản phẩm thông tin hoàn chỉnh như báo cáo thẩm định, điểm số rủi ro hay phân tích ngành, với quy chuẩn đồng nhất và nguồn gốc rõ ràng.
Điều kiện thứ hai là cơ chế định giá theo giá trị kinh tế thực. Với các sản phẩm, dịch vụ gia tăng do doanh nghiệp tạo ra, giá nên để thị trường tự quyết định dựa trên độ tin cậy, tính cập nhật và mức độ hỗ trợ ra quyết định hoặc phòng ngừa rủi ro cho bên mua; còn với dữ liệu khai thác từ các cơ sở dữ liệu do nhà nước quản lý thì vận hành theo cơ chế phí, giá mà pháp luật đã quy định. Hai cấu phần này cần song hành để vừa bảo đảm minh bạch, vừa tạo đủ động lực đầu tư cho khu vực tư nhân.
Điều kiện thứ ba là hạ tầng truyền dẫn an toàn và tự động hóa, trong đó dữ liệu được luân chuyển qua các giao thức bảo mật cao, từ kết nối thời gian thực (API), đồng bộ định kỳ theo lô (batch processing) cho đến các môi trường tính toán an toàn (data clean rooms); cách làm này vừa tối ưu tốc độ xử lý, vừa bảo vệ tính toàn vẹn và ngăn ngừa rủi ro rò rỉ thông tin.
Điều kiện cuối cùng là tiếp tục tối ưu hóa hành lang pháp lý để thương mại hóa an toàn. Khung pháp lý về dữ liệu đến nay đã khá đầy đủ, với Luật Dữ liệu có hiệu lực từ ngày 1/7/2025 cùng các nghị định hướng dẫn về sản phẩm, dịch vụ dữ liệu và về hoạt động của sàn dữ liệu; điều thị trường mong đợi là các hướng dẫn triển khai ngày càng cụ thể hơn về quyền khai thác, quyền kinh doanh đối với sản phẩm dữ liệu, cũng như sự đồng bộ với các yêu cầu về bảo vệ dữ liệu cá nhân. Đây là điều kiện để bảo vệ giá trị gia tăng của các đơn vị xử lý thông tin và tạo sự an tâm cho các bên khi hợp tác, chia sẻ thương mại lâu dài.
Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc đầu tư xây dựng hệ thống quản dữ liệu thường bị hạn chế bởi chi phí và nguồn lực. Theo ông, làm thế nào để nhóm doanh nghiệp này có thể tiếp cận, khai thác dữ liệu chất lượng cao mà không phải đầu tư quá lớn vào hạ tầng?
Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể cân nhắc chuyển từ tư duy "tự đầu tư hạ tầng" sang "tiêu dùng dịch vụ có sẵn", tiếp cận linh hoạt theo hai mảng dữ liệu chính là dữ liệu nội bộ sinh ra từ hoạt động vận hành và dữ liệu bên ngoài khai thác từ bên thứ ba.
Với dữ liệu nội bộ, cách làm tiết kiệm nhất là tận dụng các phần mềm dịch vụ (SaaS): những giải pháp quản trị trên nền tảng đám mây có chi phí linh hoạt theo quy mô, giúp tự động chuẩn hóa và lưu trữ luồng thông tin vận hành mà không cần đầu tư hạ tầng phần cứng hay duy trì đội ngũ kỹ thuật riêng.
Bên cạnh đó, doanh nghiệp nên tập trung làm sạch các trường dữ liệu cốt lõi thay vì dàn trải: chỉ cần kiểm soát chặt chẽ những thông tin thiết yếu cho hoạt động kinh doanh của mình, chẳng hạn dữ liệu về đối tác, công nợ và dòng tiền thực tế. Một bộ dữ liệu gọn gàng, cập nhật và chính xác là đã đủ để quản trị hiệu quả và dễ dàng đối soát.
Với dữ liệu bên ngoài, doanh nghiệp có thể khai thác dịch vụ dữ liệu theo nhu cầu (pay-as-you-go): khi cần thẩm định một đối tác mới hoặc đánh giá triển vọng ngành, họ mua trực tiếp báo cáo thông tin hoặc dữ liệu từ các đơn vị dữ liệu chuyên nghiệp, vừa có ngay thông tin đã được xử lý và chuẩn hóa, vừa tối ưu chi phí theo từng sự vụ phát sinh.
Một hướng nữa là tận dụng dữ liệu phân tích tổng hợp từ các nền tảng số sẵn có, ví dụ báo cáo xu hướng ngành, dữ liệu hành vi tiêu dùng đã được tổng hợp, ẩn danh hay biến động giá cả được đóng gói sẵn từ các tổ chức nghiên cứu thị trường, hiệp hội ngành hàng và các nền tảng khác.
Trong cả hai trường hợp, điều cần lưu ý là chỉ lựa chọn những nhà cung cấp chứng minh được nguồn gốc hợp pháp của dữ liệu và tuân thủ quy định về luật dữ liệu, luật bảo vệ dữ liệu cá nhân và các quy định pháp lý có liên quan. Đây là cách nhanh nhất để nắm bắt bức tranh tổng thể của thị trường và điều chỉnh chiến lược kinh doanh mà vẫn tiết kiệm chi phí.




Các đô thị dù đầu tư hệ thống cảm biến, trung tâm điều hành và nền tảng dữ liệu, nhưng khả năng phát hiện vấn đề chưa song hành cùng năng lực xử lý...
Từ đầu tư nhà màng sản xuất giống chanh dây đến áp dụng kỹ thuật chăm sóc sầu riêng, nông dân xã Chư Sê, tỉnh Gia Lai đang từng bước đưa khoa học công nghệ vào sản xuất, góp phần nâng cao chất lượng nông sản và hiệu quả kinh tế.
Thực tế ảo (VR), mô hình 3D và trí tuệ nhân tạo (AI) được đưa vào đào tạo tại Trường Đại học Điện lực, mở ra phương thức học tập trực quan, giúp sinh viên tiếp cận cấu tạo, nguyên lý vận hành của các thiết bị năng lượng và làm quen với những tình huống kỹ thuật…
Thành phố Huế vừa đưa vào khai thác 3 nền tảng số gồm Hiến kế, Hỗ trợ doanh nghiệp và Bản đồ số dự án thu hút đầu tư, nhằm tăng cường tương tác với người dân, kịp thời tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và tạo thuận lợi cho hoạt động xúc tiến đầu tư.
Khi hạ tầng viễn thông dần được phủ rộng, người dân miền núi có thêm cơ hội để tiếp cận tri thức, nâng cao đời sống và mở rộng sinh kế…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và CHDCND Lào, cho rằng cần xây dựng chính sách hướng tới nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư, giúp giảm chi phí vay không chỉ cho Nhà nước mà cả những doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng từ xếp hạng tín nhiệm quốc gia.