Hàng loạt dự án giao thông và chỉnh trang đô thị tại TP. Hồ Chí Minh đang cần khối lượng lớn đá xây dựng, cát và đất san lấp. Trong bối cảnh nguồn cung chưa đáp ứng nhu cầu, Thành phố rà soát lại quy hoạch khoáng sản, nghiên cứu khai thác sâu hơn tại một số mỏ đá và tìm kiếm nguồn vật liệu thay thế, hướng đến bảo đảm nguồn cung cho các dự án trọng điểm.
ĐIỀU CHỈNH QUY HOẠCH, TĂNG KHẢ NĂNG CUNG ỨNG ĐÁ
Ông Nguyễn Toàn Thắng, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường TP. Hồ Chí Minh, cho biết, thành phố đang thực hiện các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn về nguồn cung vật liệu xây dựng.
Một trong những phương án là rà soát, tích hợp quy hoạch và nghiên cứu tăng độ sâu khai thác các mỏ đá tại khu vực Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây thêm khoảng 50 - 150 m. Đây là cách tiếp cận mới trong bối cảnh địa giới hành chính đã thay đổi, kéo theo quy mô nhu cầu vật liệu của thành phố cũng lớn hơn trước.
Giải thích về phương án này, ông Nguyễn Toàn Thắng cho rằng vì trước đây mỗi địa phương xây dựng quy hoạch khai thác để đáp ứng nhu cầu vật liệu trên địa bàn. Sau khi hợp nhất địa giới hành chính, nhu cầu vật liệu của Thành phố tăng lên; nếu giữ nguyên độ sâu khai thác theo quy hoạch cũ, sản lượng sẽ khó đáp ứng nhu cầu chung. Vì vậy, Thành phố nghiên cứu tăng độ sâu khai thác các mỏ đá tại khu vực Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây thêm 50 - 150 m nhằm nâng sản lượng cung ứng.
Về áp lực nguồn cung, lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Môi trường cho biết, công suất khai thác đá xây dựng trên địa bàn thành phố đạt khoảng 23,66 triệu m3, trong khi nhu cầu lên tới 28,16 triệu m3, thiếu khoảng 4,5 triệu m3. Với cát xây dựng, nguồn cung khoảng 0,69 triệu m3 so với nhu cầu 15,56 triệu m3.
Tình trạng thiếu vật liệu đang gây sức ép lên các dự án giao thông trọng điểm, trong đó có đường Vành đai 3 và cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Mộc Bài. Tại một số công trường Vành đai 3, nhà thầu phản ánh lượng cát đưa về chưa đáp ứng nhu cầu thi công; các đơn vị phải chủ động tìm thêm nguồn cung để tránh ảnh hưởng tiến độ.
Song song với điều chỉnh quy hoạch, TP. Hồ Chí Minh đẩy nhanh thủ tục cấp phép, gia hạn và nâng công suất khai thác mỏ. Thời gian xử lý các thủ tục này được rút ngắn từ khoảng 67 ngày xuống còn 20 ngày. Một số thủ tục về đất đai và môi trường cũng được xem xét đơn giản hóa đối với trường hợp đáp ứng điều kiện theo quy định.
Việc rút ngắn thời gian xử lý có ý nghĩa đối với các mỏ đủ điều kiện tăng công suất hoặc gia hạn khai thác, giúp bổ sung sản lượng sớm hơn. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế còn phụ thuộc vào trữ lượng, công suất được phép khai thác và khả năng cung ứng của từng mỏ.
CÁT BIỂN ĐƯỢC TÍNH TOÁN ĐỂ BÙ ĐẮP THIẾU HỤT CÁT SAN LẤP
Trong khi việc tăng độ sâu khai thác mỏ đá chủ yếu nhằm bổ sung đá xây dựng, thì đối với cát san lấp, TP. Hồ Chí Minh đang tính toán một hướng khác là sử dụng cát biển làm vật liệu thay thế phù hợp.
Cụ thể, các cơ quan chức năng của thành phố đã khảo sát nguồn cát biển khoảng 50 triệu m3 ở khu vực ngoài khơi và khoảng 5 triệu m3 trong bờ. Tổng khối lượng tiềm năng được đề cập là khoảng 55 triệu m3.
Trong khi đó, nhu cầu cát san lấp của thành phố được nêu ở mức khoảng 44 triệu m3, còn nguồn cung hiện có khoảng 5 - 8 triệu m3. Khoảng cách lớn giữa nhu cầu và khả năng cung ứng khiến việc tìm nguồn thay thế trở thành một trong những phương án được thành phố đặt ra.
Dù vậy, 55 triệu m3 cát biển mới là khối lượng được khảo sát, chưa đồng nghĩa toàn bộ có thể khai thác và đưa ngay vào các công trình. Việc sử dụng cần đáp ứng yêu cầu kỹ thuật của từng dự án, đồng thời xử lý các vấn đề liên quan đến thủ tục, chất lượng vật liệu và vận chuyển. Vì vậy, khả năng bổ sung nguồn cát biển cần được đánh giá trên cơ sở điều kiện khai thác và yêu cầu thực tế của công trình.
Cùng với các giải pháp mở rộng nguồn cung, thành phố triển khai kế hoạch điều phối vật liệu xây dựng thông thường cho các dự án, công trình trọng điểm năm 2026 và giai đoạn 2027 - 2030. Việc phân bổ được định hướng ưu tiên các dự án trọng điểm của Trung ương, tiếp đến là dự án trọng điểm của thành phố và dự án của nhà đầu tư chiến lược.
Để triển khai phương án này, Sở Xây dựng chịu trách nhiệm rà soát, cung cấp thông tin về các mỏ đang hoạt động để chủ đầu tư chủ động tiếp cận, đánh giá chất lượng và ký kết hợp đồng cung ứng. Sở Nông nghiệp và Môi trường cập nhật trữ lượng, công suất, hướng dẫn thủ tục nâng công suất, gia hạn hoặc cấp mới mỏ theo quy định.
Các giải pháp được triển khai trên nhiều khâu từ rà soát quy hoạch, rút ngắn thủ tục khai thác đến tìm kiếm vật liệu thay thế và điều phối nguồn cung. Trước mắt nhằm hạn chế tình trạng thiếu hụt vật liệu làm ảnh hưởng tiến độ các công trình, đồng thời xây dựng phương án cung ứng phù hợp với nhu cầu đầu tư của TP. Hồ Chí Minh trong những năm tới.
UBND thành phố Đà Nẵng vừa ban hành quyết định số 4785/QĐ-UBND ngày 19/10/2026 chấp thuận chủ trương đầu tư Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng khu chức năng tại vị trí số 7 thuộc Khu thương mại tự do Đà Nẵng.
Chính sách thu hút đầu tư nước ngoài cần chuyển trọng tâm từ quy mô vốn sang chất lượng, hiệu quả, chuyển giao công nghệ và khả năng kết nối với doanh nghiệp trong nước…
Dự kiến lắp đặt 32 tua-bin gió, công suất 200 MW và sản lượng khoảng 515,86 GWh/năm, Nhà máy điện gió Phúc Lộc Thọ là dự án năng lượng tái tạo quy mô lớn tại Quảng Trị, với tổng vốn đầu tư dự kiến 8.507 tỷ đồng.
Không gian biển đang trở thành một trong những nguồn lực phát triển chiến lược của Việt Nam, nhưng đây cũng là nguồn lực hữu hạn khi ngày càng nhiều ngành kinh tế cùng tìm kiếm những khu vực có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển. Trong bối cảnh đó, quy hoạch không gian phải trở thành công cụ kiến tạo giá trị, điều phối các lợi ích và tổ chức những không gian phát triển đa mục tiêu…
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Theo Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc, xi măng đất sét nung (LC3) là vật liệu xây dựng mới và bền vững. Chi phí đầu tư thấp, thân thiện với môi trường và khí hậu hơn so với xi măng thông thường... việc phát triển, phổ biến xi măng hỗn hợp phù hợp với mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững mà Chính phủ đã đề ra.