Sau chiến tranh, nền kinh tế Việt Nam bị tàn phá nặng nề nên yếu kém cả về vốn và nguồn nhân lực. Trong khi Hoa Kỳ thực hiện chính sách bao vây cấm vận Việt Nam gây nhiều khó khăn cho nền kinh tế thì nguồn viện trợ từ khối các nước xã hội chủ nghĩa (chủ yếu từ Liên Xô cũ) còn rất nhỏ, không đáp ứng được đòi hỏi phát triển kinh tế và tâm nguyện vươn ra thế giới của Việt Nam như lời Bác Hồ đã nói “sánh vai với các cường quốc ở năm châu”.
Trong bối cảnh đó, FDI được xác định là con đường chiến lược trong giai đoạn đầu để phá vỡ chính sách bao vây cấm vận Việt Nam của Hoa kỳ và đưa Việt Nam trở thành một địa bàn đầu tư mang lại hiệu quả cho các nhà đầu tư nước ngoài.
Tuy trong 3 năm đầu tiên (1988-1990) Việt Nam chỉ thu hút được số vốn FDI nhỏ và trong 5 năm tiếp theo (1991 -1995) mức thu hút FDI cũng chỉ đạt 18,37 tỷ USD, nhưng với bối cảnh đất nước vừa thoát khỏi khủng hoảng, số vốn FDI này đã góp phần tạo động lực phục hồi kinh tế và khẳng định niềm tin của cộng đồng quốc tế. Do vậy, Việt Nam vẫn kiên trì theo đuổi việc thực hiện định hướng đặt ra về thu hút FDI và FDI tiếp tục được coi là nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội.
Định hướng thu hút FDI trong giai đoạn đầu mở cửa là một giải pháp thích hợp trong bối cảnh rất khó khăn. Hơn nữa, tại thời điểm đó, Việt Nam chưa có đội ngũ doanh nghiệp tư nhân đông đảo hoạt động đầu tư sản xuất như hiện nay.
Để thu hút vốn FDI nhiều hơn, Việt Nam đã liên tục hoàn thiện cơ sở pháp lý với việc Luật Đầu tư nước ngoài đã được sửa đổi bổ sung vào các năm 1990, 1992, 1996, 2000, 2005, 2014, 2020. Đặc biệt, trong năm 2005 đã ban hành Luật Đầu tư chung thay thế Luật Đầu tư nước ngoài và Đầu tư trong nước. Điều này đã tạo ra bước nhảy vọt trong thu hút FDI. Trong đó, năm 2005 đã thu hút được trên 6,8 tỷ USD, khởi đầu cho làn sóng FDI vào Việt Nam. Các năm tiếp sau đó tiếp tục đạt mức cao: năm 2006 là 12 tỷ USD, năm 2007 trên 21,3 tỷ USD, năm 2008 đạt kỷ lục 71,7 tỷ USD, mức cao nhất tính đến nay.
Hơn nữa, sau mỗi lần sửa đổi, bổ sung Luật Đầu tư, bên cạnh số vốn FDI tăng lên, chất lượng FDI cũng ngày càng cao hơn. Đến nay, thực tế đã chứng minh tính sáng tạo của định hướng thu hút FDI đã rất thích hợp với bối cảnh quốc tế và hoàn cảnh của Việt Nam sau chiến tranh. Thực hiện định hướng này đã góp phần phá vỡ chính sách bao vây cấm vận của Hoa Kỳ kéo theo của nhiều nước tư bản phát triển khác và quan trọng là Việt Nam thực hiện việc hội nhập kinh tế quốc tế thành công. Việt Nam đã trở thành một quốc gia thành công trong việc sử dụng nguồn vốn FDI để phát triển kinh tế - xã hội, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao.
Việt Nam đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức quốc tế quan trọng (như Liên hợp quốc, Tổ chức Thương mại thế giới...), đã ký 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) với nhiều quốc gia phát triển trên thế giới, trong đó có các hiệp định thế hệ mới như CPTPP, RCEP… Bên cạnh đó, Việt Nam còn có quan hệ ngoại giao với 193 nước, bao gồm tất cả các nước lớn, đồng thời có quan hệ kinh tế với 221 thị trường nước ngoài.
Với Nhật Bản, sau Thế chiến II, quốc gia này bị tàn phá nặng nề về cơ sở hạ tầng cùng với các nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh khác. Vì thế, sức sản xuất và thị trường Nhật Bản hầu như quay trở về số “0”, khi tất cả chỉ tiêu đo lường kinh tế đều thấp hơn mức trước chiến tranh. Nhật Bản đã phải tái thiết đất nước lại từ đầu.
Vào đầu những năm 1960, Nhật Bản đã xây dựng kế hoạch tái thiết nền kinh tế với kế hoạch nhân đôi thu nhập “Income Doubling Plan 1960” với mục tiêu nhân đôi thu nhập quốc dân (National income) trong vòng 10 năm (từ năm 1960 đến 1970) với mức tăng trưởng 7,2%/năm (trong thực tế Nhật Bản đã có một số năm đạt hơn 10%).
Đồng thời, Nhật Bản thúc đẩy đầu tư công (hạ tầng, đường sá, cảng, viễn thông, điện năng…), phát triển ngành công nghiệp nặng và hóa chất để nâng cao giá trị xuất khẩu. Chính phủ cũng hỗ trợ doanh nghiệp về chính sách thuế, tín dụng, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Kết quả là Nhật Bản đã đạt mục tiêu nhân đôi thu nhập sớm hơn kế hoạch, tăng trưởng GDP bình quân cao (khoảng 10% trong nhiều năm đầu giai đoạn 1960). Nhật Bản không phụ thuộc quá mức vào FDI trong giai đoạn phục hồi và tăng trưởng nhanh (1950 -1970). FDI vào Nhật Bản vẫn bị hạn chế do rào cản pháp lý, chính sách kiểm soát vốn FDI và khuyến khích các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư phát triển kinh tế trong nước. FDI vào Nhật Bản phải qua chọn lọc và nhằm vào mục đích nhận chuyển giao công nghệ, tiếp thu kinh nghiệm quản lý, hoặc giúp mở rộng thị trường.
Bên cạnh đó, Nhật Bản khuyến khích đầu tư ra nước ngoài (OFDI Nhật Bản). Các doanh nghiệp Nhật Bản lớn có mục tiêu tìm kiếm thị trường bên ngoài với nhân công giá rẻ, khi chi phí sản xuất ở trong nước đã tăng lên.
Từ câu chuyện thành công của Nhật Bản cho thấy FDI vào Nhật Bản có tỷ trọng rất thấp so với quy mô nền kinh tế tổng FDI chỉ chiếm khoảng 5% GDP năm 2024. Trong khi đó, tính riêng năm 2024, Nhật Bản là một trong các quốc gia có OFDI lớn nhất thế giới với 204,3 tỷ USD, chiếm khoảng 5% GDP. Lũy kế tổng giá trị OFDI của Nhật Bản tính đến hết năm 2024 khoảng 2,45 nghìn tỷ USD.
Đối với Việt Nam, trải qua 38 năm (12/1987 – 9/2025) mở cửa thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI, đến nay cho thấy: Việt Nam đã rất thành công khi đã sử dụng nguồn vốn FDI cho phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn vừa qua. Nguồn vốn này đã chiếm một tỷ lệ không nhỏ trong tổng vốn đầu tư của Việt Nam (có giai đoạn chiếm trên 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội), giúp Việt Nam từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, đã có một nền kinh tế có mức tăng trưởng cao trong nhiều năm qua.
Từ đó cho thấy việc sử dụng nguồn vốn FDI vào phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam vẫn cần phải phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển, với tiềm năng và vị thế của đất nước trong mỗi giai đoạn để có cách tiếp cận, sử dụng nguồn vốn FDI này thích hợp. Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, khi “thế và lực” của Việt Nam đã thay đổi, việc xem xét nghiên cứu một cách thận trọng, toàn diện, chuyên sâu về kinh nghiệm của Nhật Bản trong thu hút và sử dụng FDI có chọn lọc có thể giúp Việt Nam thực hiện được việc sử dụng FDI với hiệu quả cao hơn trong giai đoạn tới, khi Việt Nam bước vào Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Với nguyên tắc Việt Nam vẫn tích cực, chủ động thu hút FDI nhưng có áp dụng kinh nghiệm của Nhật Bản là phải có “chọn lọc về chất lượng và không chạy theo số lượng”, nếu nguyên tắc này được thực thi nghiêm túc từ Trung ương đến các địa phương trong cả nước với sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân đang được Nhà nước tạo điều kiện để phát triển mạnh trong giai đoạn tới (Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị: kinh tế tư nhân được xác định là động lực quan trọng nhất) chắc chắn sẽ giúp Việt Nam thành công hơn trong bước phát triển cần nhảy vọt.
Thực tế, Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 50-NQ/TW ngày 20/8/2019 về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030. Đây thực sự là một định hướng mới về thu hút FDI của Việt Nam. Tuy vậy từ năm 2019 đến nay, Việt Nam chưa thực hiện được đầy đủ tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết 50 (do nhiều nguyên nhân khách quan như đại dịch Covid-19; thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao; số doanh nghiệp tư nhân “đại bàng” rất ít trong khi đại bộ phận các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đến thời điểm hiện nay vẫn là các doanh nghiệp có quy mô vốn nhỏ...).
Từ những thành công và cách làm của Nhật Bản đối với FDI nêu trên (OFDI là chủ yếu), cho thấy Việt Nam có thể xem xét kỹ để quyết định việc học tập áp dụng cụ thể các kinh nghiệm sau của Nhật Bản:
Thứ nhất, xây dựng kế hoạch chiến lược ngành quốc gia đến 2045 tương tự như kế hoạch “Income Doubling Plan” của Nhật Bản, nhưng trọng tâm hướng tới tăng trưởng dựa trên sự đổi mới sáng tạo (Innovation – Driven Growth); ngoài mục tiêu GDP cần lưu ý đến các chỉ tiêu về tỷ trọng công nghiệp công nghệ cao, năng suất lao động, mức nội địa hóa, phát triển xanh bền vững.
Thứ hai, có quy định đối với FDI về điều kiện công nghệ và nội địa hóa; đầu tư theo hình thức công ty liên doanh có chuyển giao công nghệ.
Thứ ba, Nhà nước tiếp tục đẩy mạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng, có cơ chế PPP để thu hút nguồn vốn tư nhân.
Thứ tư, tập trung đào tạo nguồn nhân lực cao và đẩy mạnh nghiên cứu và phát triển (R&D).
Thứ năm, quản lý và kiểm soát chặt chẽ hiệu quả của FDI trên cơ sở Bộ tiêu chí đánh giá FDI (QĐ số 315/QĐ-TTg ngày 18/2/2025 ban hành Bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư nước ngoài tại Việt Nam).
Thứ sáu, ổn định chính sách và tầm nhìn dài hạn.
Việc áp dụng chiến lược thu hút FDI theo kiểu Nhật Bản sẽ giúp dòng vốn này đóng góp hiệu quả và bền vững hơn cho kinh tế Việt Nam. Thực chất, định hướng này đã được thể hiện trong Nghị quyết 50 của Bộ Chính trị. Nếu Nghị quyết được cụ thể hóa thành một chiến lược dài hạn đến năm 2045 và được triển khai một cách nghiêm túc, chắc chắn hiệu quả của vốn FDI trong giai đoạn tới sẽ được nâng cao.
Nội dung đầy đủ của bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 40-2025 phát hành ngày 6/10/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-40-2025.html
“Khi làm chủ công nghệ, chúng ta có quyền tự quyết định vận mệnh phát triển sản phẩm của mình mà không phụ thuộc vào bên ngoài. Báo chí là huyết mạch thông tin của quốc gia. Nếu lõi công nghệ quản trị nội dung và dữ liệu của các cơ quan báo chí phụ thuộc vào các nền tảng nước ngoài, đó sẽ là rủi ro lớn đối với an ninh thông tin và chủ quyền số quốc gia”. Đó là khẳng định của ông Đỗ Chiến Thắng, Chủ tịch Hemera Media, trong cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy nhân dịp tạp chí tròn 35 năm phát triển.
Ra mắt đúng dịp kỷ niệm 35 năm thành lập Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, Askonomy thế hệ mới (3.5) không chỉ là một sản phẩm công nghệ mà còn là kết quả của mô hình hợp tác giữa báo chí và doanh nghiệp AI, trong đó tòa soạn đóng vai trò như một “phòng lab sống”, còn đơn vị công nghệ đảm nhiệm việc phát triển và hoàn thiện sản phẩm.
Diễn đàn cấp cao Chuyển đổi số Việt Nam - châu Á 2026 (Vietnam - Asia DX Summit 2026) đã ứng dụng Asko Meet, nền tảng họp và hội thảo thông minh tích hợp AI thuộc hệ sinh thái Askonomy, để chuyển giọng nói thành văn bản và phiên dịch trực tiếp đa ngôn ngữ cho đại biểu tham dự. Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy bên lề sự kiện, ông An Ngọc Thao, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Phần mềm và Dịch vụ CNTT Việt Nam (VINASA), cho rằng các nền tảng họp thông minh như Asko Meet không chỉ hỗ trợ tổ chức sự kiện mà còn kéo dài vòng đời tri thức của hội nghị, giúp nội dung và tri thức tiếp tục được lưu giữ, khai thác và lan tỏa sau khi sự kiện kết thúc.
Cùng nhìn lại hành trình 35 năm qua của tổ hợp cơ quan báo chí Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy – Vietnam Economic Times, những người làm báo chúng tôi càng thêm tự hào về “ngôi nhà chung” và đặc biệt xúc động về sự gắn bó keo sơn của các thế hệ trong tòa soạn. Từ những ngày “3 không” năm 1991 (không tiền, không trụ sở tòa soạn, không bộ máy), dưới sự dẫn dắt của người sáng lập - GS. Đào Nguyên Cát - cùng thế hệ lãnh đạo cùng thời và kế tiếp đã đưa Thời báo Kinh tế Việt Nam, nay là Tạp chí Kinh tế Việt Nam, vươn mình trở thành tổ hợp truyền thông kinh tế hiện đại, có sức ảnh hưởng tầm khu vực và quốc tế.
Suốt 35 năm đồng hành cùng dòng chảy kinh tế đất nước và các doanh nghiệp, sự tin cậy từ những dòng dữ liệu xác thực đã định hình nên vị thế vững chắc của Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy. Tuy nhiên trong kỷ nguyên mà thông tin không còn khoảng cách và công nghệ đang tái định hình xã hội, dòng chảy tri thức ấy không thể là những con số đứng yên...
Trên chặng đường 35 năm hình thành và phát triển, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, trước đây là Thời báo Kinh tế Việt Nam, đã không ngừng nỗ lực tập trung vào các sản phẩm báo chí chất lượng, chuyên sâu, gắn chặt với thực tiễn của doanh nghiệp, lắng nghe những khó khăn, rào cản về chính sách đang tác động đến sự phát triển của doanh nghiệp, từ đó đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm tháo gỡ những bất cập ở cả cấp độ chính sách vĩ mô lẫn hoạt động sản xuất kinh doanh, thực hiện sứ mệnh phản ánh và đồng hành cùng tiến trình phát triển của đất nước.
Cuối tháng 6 này, sàn giao dịch tín chỉ carbon dự kiến sẽ chính thức được đưa vào vận hành. Hiện các đơn vị liên quan đang khẩn trương hoàn thiện các hạng mục bảo đảm hoạt động đăng ký, lưu ký, giao dịch và thanh toán hạn ngạch phát thải khí nhà kính, tín chỉ carbon được thực hiện thông suốt, minh bạch và hiệu quả.