Ông đánh giá thế nào về bức tranh nền kinh tế 5 tháng đầu năm 2023?
Chúng ta đang có một bức tranh kinh tế với hai màu sáng - tối đan xen. Năm 2022 khép lại với thành quả ấn tượng. Chúng ta vừa ổn định được kinh tế vĩ mô, vừa duy trì được tốc độ tăng trưởng trên 8% - gần gấp 3 lần tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế thế giới và 2 lần so với châu Á. Việt Nam trở thành một điểm sáng hiếm hoi trong nền kinh tế toàn cầu.
Tuy nhiên, các số liệu được Tổng cục Thống kê vừa công bố mới đây lại cho thấy thực trạng kinh tế Việt Nam 5 tháng đầu năm 2023 là rất khó khăn. Các động lực tăng trưởng chính của nền kinh tế đều đang trên đà suy giảm.
Xuất khẩu trong 5 tháng đầu năm đã giảm 11,6% so với cùng kỳ năm ngoái; chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp giảm 2%; giải ngân vốn FDI giảm 0,8%.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, mặc dù có tăng 8,3% so với cùng kỳ (sau khi loại trừ yếu tố giá), nhưng vẫn thấp hơn mức tăng 10,3% của 3 tháng đầu năm, tức là tốc độ tăng trưởng cũng đang giảm đi.
Niềm tin kinh doanh đang ở mức thấp. Tính chung 5 tháng đầu năm, số doanh nghiệp thành lập mới và quay lại hoạt động chỉ đạt con số 95 nghìn, giảm 3,7% so với cùng kỳ, còn số doanh nghiệp rút khỏi thị trường là 88 nghìn, tăng đến 22,6%.
Các doanh nghiệp đang hoạt động phần lớn cũng phải thu hẹp quy mô sản xuất, kinh doanh. Nhiều doanh nghiệp thực tế đã chết lâm sàng. Khu vực kinh tế tư nhân, một trong những thành quả quan trọng bậc nhất của công cuộc cuộc đổi mới kinh tế ở nước ta, trong những năm qua đang suy yếu.
Nguyên nhân chính của tình trạng ảm đạm nói trên là do: nhu cầu tiêu dùng tại các nước phát triển, thị trường xuất khẩu chủ yếu của chúng ta tăng trưởng chậm lại; thị trường bất động sản, thị trường trái phiếu doanh nghiệp ở nước ta bị đóng băng, gây tác động dây chuyền, khiến tình trạng nợ nần gia tăng, sản xuất bị đình trệ, thu nhập của người dân giảm sút.
Trước những khó khăn này, theo ông, các giải pháp của Chính phủ hiện đã đủ cho doanh nghiệp vượt qua bối cảnh khó khăn hiện nay chưa?
Chúng tôi đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ trong việc thúc đẩy đầu tư công và làm sống lại nhiều dự án trọng điểm đã bị đắp chiếu, nằm im trong hàng thập kỷ. Chúng tôi cũng đánh giá cao việc Ngân hàng Nhà nước đã dũng cảm đi ngược chiều với thế giới để thực hiện 3 đợt giảm lãi suất liên tục, đồng thời cho phép các tổ chức tín dụng được thực hiện cơ cấu lại nợ, giãn nợ cho doanh nghiệp.
Bên cạnh đó là những nỗ lực của Bộ Tài chính trong việc thực hiện các chính sách giãn, hoãn, giảm thuế cho người dân và doanh nghiệp.
Dù vậy, liều lượng của các chính sách kể trên còn chưa đáp ứng được yêu cầu và tiến độ còn chậm trễ. Tôi đề nghị trong thời gian tới, Chính phủ cần thực thi các biện pháp tài khóa và tiền tệ mạnh mẽ hơn, bởi lạm phát tại Việt Nam đang giảm nhanh, CPI trong 5 tháng đầu năm chỉ tăng 0,4% so với thời điểm cuối năm ngoái, cán cân thương mại đang thặng dư lớn (5 tháng đầu năm chúng ta xuất siêu 9,8 tỷ USD), còn nợ công mới ở mức 43,1% GDP, thấp hơn nhiều so với trần nợ công 60% GDP do Quốc hội quy định.
Dư địa của các chính sách tài khóa – tiền tệ, đặc biệt là chính sách tài khóa còn lớn, vì vậy đây là thời điểm thích hợp để thực hiện quốc sách khoan sức dân, yểm trợ cho doanh nghiệp, không nên tăng thêm bất cứ loại thuế, phí và thủ tục nào.
Các đề xuất theo kiểu tăng giá điện, tăng thuế mặt hàng nước uống có đường, áp chi phí tái chế bao bì cho các ngành sản xuất… nên dừng lại. Việc giảm thuế VAT 2% trong thời gian tới, theo tôi, nên mở rộng ra tất cả các ngành hàng và kéo dài ít nhất một năm, không nên chỉ bó gọn trong vài ngành hàng và chỉ ngập ngừng trong thời gian 6 tháng.
Tuy nhiên, các giải pháp nói trên, dù là rất quan trọng, nhưng chỉ là các biện pháp cấp thời nhằm giảm chi phí, bớt khó khăn về thanh khoản, giúp các doanh nghiệp cầm cự được trong một thời gian ngắn. Các giải pháp này chưa đủ để giúp nền kinh tế có thể phục hồi bền vững trong dài hạn.
Vậy theo ông, đâu là giải pháp căn cơ, quyết liệt lúc này?
Để nền kinh tế có thể vượt qua những khó khăn hiện nay, chúng ta cần có những quyết sách mạnh mẽ hơn. Cụ thể, vấn đề trách nhiệm của các cấp, các ngành, phải được phân định rõ như một kỷ luật thép, để đẩy mạnh giải ngân đầu tư công hơn nữa, từ đó tăng được tổng cầu và tạo được tác động lan tỏa trong nền kinh tế.
70% các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, được phản ánh là đang gặp khó khăn về pháp lý. Đó là sự cảnh báo về tình trạng trì trệ nghiêm trọng. Do đó, các vướng mắc về pháp lý và thủ tục hành chính cần được giải quyết nhanh chóng hơn, để các dự án bất động sản và các dự án sản xuất, kinh doanh khác được triển khai, tạo việc làm cho người lao động.
Ngoài ra, trong bối cảnh các kênh dẫn vốn trong nền kinh tế như tín dụng ngân hàng, trái phiếu doanh nghiệp bị tắc nghẽn, khu vực doanh nghiệp nội địa đang suy kiệt, thì việc đổi mới chính sách, chủ động thu hút các dòng vốn đầu tư nước ngoài có chất lượng cao, có khả năng liên kết liên doanh với doanh nghiệp Việt trong bối cảnh mới cũng không kém phần quan trọng.
Tôi ủng hộ chủ trương áp dụng các cơ chế đặc biệt, đặc thù cho Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh thành phố khác. Chính phủ phải làm "đốc công", tìm cách tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đột phá vào tảng băng “né tránh trách nhiệm, lo sợ oan sai” của chính quyền các cấp. Quốc hội phải ban hành nhiều cơ chế ngoại lệ, đặc biệt, đặc thù… Vì vậy, thúc đẩy cải cách thể chế, hoàn thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, lại một lần nữa đang là vấn đề cấp bách được đặt ra.
Trước yêu cầu này, tôi cảm thấy vô cùng tiếc nuối khi năm nay Chính phủ đã không còn ban hành một Nghị quyết riêng về cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia như Nghị quyết 19, Nghị quyết 02 của những năm trước đây, mà chỉ đề cập đến các nội dung này trong một đề mục của Nghị quyết chung về phát triển kinh tế - xã hội.
Tôi đề nghị từ năm 2024, Chính phủ nên khôi phục lại việc ban hành hàng năm Nghị quyết quan trọng này để có thể đóng vai trò là kim chỉ nam, chương trình tổng thể và thước đo cho hành động quốc gia nâng cao chất lượng thể chế với tiêu chí và mục tiêu cụ thể, cân đong đo đếm được, để tạo áp lực cũng như động lực cho chương trình cải cách của bộ, ngành, địa phương trong bối cảnh mới.
VnEconomy 19/06/2023 07:00
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 25-2023 phát hành ngày 19-06-2023. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
https://postenp.phaha.vn/chi-tiet-toa-soan/tap-chi-kinh-te-viet-nam




Thị trường du lịch chăm sóc sức khỏe trên toàn cầu đang mở rộng nhanh chóng khi nhu cầu tìm kiếm những trải nghiệm giúp kiểm soát sự căng thẳng, cải thiện sức khỏe tổng thể và thúc đẩy lối sống lành mạnh tăng cao. Ngày càng nhiều du khách mong muốn khám phá những khu nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe độc đáo và sẵn sàng chi trả tương xứng. Hơn thế nữa, sự ra đời của các công nghệ tiên tiến như trí tuệ nhân tạo (AI), học máy (Machine Learning) và Internet vạn vật (IoT) đã tạo ra những tiến bộ lớn trong du lịch chăm sóc sức khỏe.
Các dịch vụ và công nghệ kỹ thuật cơ khí cho phép doanh nghiệp tích hợp vào quy trình vận hành những hệ thống tiết kiệm năng lượng, chiến lược bảo trì dự đoán và năng lực sản xuất thông minh. Khi các doanh nghiệp tìm kiếm cơ sở hạ tầng có khả năng mở rộng và sẵn sàng cho tương lai, ngành cơ khí ngày càng mang lại giá trị thiết thực.
Kinh tế tầm thấp và kinh tế không gian vũ trụ đang mở ra không gian phát triển mới, nhưng để biến tiềm năng thành giá trị kinh tế thực sự, Việt Nam cần đồng thời giải bài toán về công nghệ, thể chế, hạ tầng, nhân lực và thị trường. Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy ghi nhận những góc nhìn, kiến nghị từ cơ quan quản lý, doanh nghiệp và các nhà nghiên cứu tại đối thoại “Phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp tại Việt Nam”, qua đó góp phần hoàn thiện hệ sinh thái này.
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đặng Hồng Hạnh, Đồng sáng lập kiêm Giám đốc Điều hành VNEEC, cho rằng bên cạnh việc hoàn thiện các quy định pháp lý, Việt Nam cần sớm làm rõ quyền sở hữu tín chỉ carbon, xây dựng hệ thống đăng ký có khả năng kết nối với các thị trường quốc tế, đồng thời tăng cường năng lực cho doanh nghiệp và các bên tham gia. Đây là những điều kiện quan trọng để hình thành một thị trường carbon minh bạch, hiệu quả, góp phần thu hút nguồn lực cho chuyển đổi xanh và thực hiện các cam kết giảm phát thải của Việt Nam.
Trải qua gần ba thập kỷ kiên định chuyển mình từ nền tảng công nghiệp vững chãi đến hệ sinh thái đô thị nhân văn, hành trình của Tập đoàn Tân Đô (Tandogroup) và nhà phát triển Mai Bá Hương tại Lương Hòa (Tây Ninh) chính là minh chứng cho một tầm nhìn vượt thời gian, nơi niềm tin và giá trị thực được bồi đắp để đánh thức tương lai của cả một vùng đất.
Trong khuôn khổ Diễn đàn “Hoàn thiện chính sách tạo lợi thế cạnh tranh thúc đẩy phát triển năng lượng” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức, các chuyên gia pháp lý và kinh tế đã đưa ra những góc nhìn sâu sắc về yêu cầu cải cách thể chế, trọng tâm là dự thảo Luật Dầu khí (sửa đổi).
Những ngày này, trên công trường mở rộng Đại lộ Lê Lợi, tỉnh Thanh Hóa, không khí thi công diễn ra khẩn trương. Máy móc, nhân lực được huy động tối đa để hoàn thiện các hạng mục, hướng tới mục tiêu thông xe kỹ thuật vào dịp 2/9.