
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng vừa gửi đến các đại biểu Quốc hội báo cáo một số nội dung liên quan đến nhóm vấn đề chất vấn tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội khóa XV, trong đó có cơ chế cấp hạn mức tín dụng.
Cập nhật dữ liệu, người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước cho biết tín dụng những tháng đầu năm 2022 tăng phù hợp với diễn biến phục hồi của nền kinh tế và tập trung vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh.
Đến ngày 31/5/2022, tín dụng tăng 8,04% so với cuối năm 2021 và tăng 16,94% so với cùng kỳ năm 2021. Trong đó, 4/5 lĩnh vực ưu tiên có mức tăng cao hơn cùng kỳ và 3/5 lĩnh vực ưu tiên có mức tăng cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung; tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro được kiểm soát.
Căn cứ mục tiêu kinh tế - xã hội về tăng trưởng GDP lạm phát, hàng năm Ngân hàng Nhà nước xây dựng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng cho cả năm của cả hệ thống tổ chức tín dụng, đồng thời có điều chỉnh phù hợp với nhu cầu, khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Việc này bảo đảm cung cấp vốn cho phát triển kinh tế nhưng cũng thận trong với rủi ro lạm phát và rủi ro nợ xấu phát sinh.
Theo đó, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện đồng bộ một số giải pháp. Cụ thể như xác định và thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng tổ chức tín dụng, trên cơ sở tình hình hoạt động, năng lực tài chính, quản trị điều hành và khả năng mở rộng tín dụng lành mạnh của từng tổ chức tín dụng.
Người đứng đầu Ngân hàng Nhà nước khẳng định, việc thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng đối với các tổ chức tín dụng được thực hiện theo nguyên tắc, tổ chức tín dụng có tình hình hoạt động an toàn, lành mạnh hơn sẽ được Ngân hàng Nhà nước xem xét phân bổ chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cao hơn, qua đó, thúc đẩy tổ chức tín dụng nâng cao năng lực quản trị, điều hành, tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động và các chỉ số an toàn hoạt động.
Bên cạnh đó, theo Thống đốc, Ngân hàng Nhà nước cũng xem xét một số yếu tố như mặt bằng lãi suất huy động, cho vay, tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực bất động sản, lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn... đảm bảo thực hiện đúng chủ trương của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về tập trung tín dụng vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, kiểm soát chặt chẽ tín dụng vào lĩnh vực tiềm ấn rủi ro, tiếp tục giảm mặt băng lãi suất cho vay.
Thống đốc cũng nêu một số khó khăn, vướng mắc. Đơn cử, năm 2022, sức ép tăng trưởng tín dụng lớn do cộng hưởng nhiều yếu tố: Đầu tư công giải ngân vẫn còn chậm khiến nguồn vốn phục hồi kinh tế phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng; việc triển khai gói hỗ trợ lãi suất 40.000 tỷ đồng trong năm 2022 - 2023 trong bối cảnh áp lực lạm phát ngày càng tăng và tỷ lệ tín dụng/GDP đã ở mức cao khiến công tác điều hành tín dụng gặp nhiều thách thức...
Nêu định hướng trong thời gian tới, với áp lực lạm phát thời gian tới khá lớn, Ngân hàng Nhà nước sẽ theo sát diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ trong và ngoài nước để điều hành phù hợp.
Đồng thời, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, đảm bảo an toàn hệ thống; tiếp tục theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và tình hình thị trường để có giải pháp điều hành phù hợp.




Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) vừa triển khai chương trình tín dụng ưu đãi với lãi suất cho vay chỉ từ 6,0%/năm (giảm tới 2,0%/năm so với mức lãi suất thông thường) tùy theo kỳ hạn và lĩnh vực vay vốn.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu Ngân hàng Nhà nước khẩn trương triển khai các giải pháp giảm lãi suất cho vay từ 1,5-2% đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên nhằm hỗ trợ người dân, doanh nghiệp...
Giá vàng thế giới giảm nhẹ trong phiên giao dịch ngày thứ Sáu (16/10), hoàn tất một tuần đi xuống, dù tỷ giá đồng USD và lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ cùng giảm...
Năm 2026 tăng trưởng kinh tế có ý nghĩa quan trọng: là năm đầu của kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Ba phần tư chặng đường của năm đã đi qua, nền kinh tế đạt những kết quả tích cực, song vẫn còn không ít vấn đề cần được giải quyết để hoàn thành các mục tiêu đề ra cho cả năm.
Hồi năm 2012, bản đồ nợ của châu Âu vẫn còn rất đơn giản: ở phía Bắc là nhóm các quốc gia cốt lõi với chi phí vay thấp, trong đó Đức đóng vai trò trung tâm, còn ở phía Nam là nhóm các quốc gia ngoại vi với nợ nần chồng chất...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Thực tế, sau 9 tháng năm 2026, dù kinh tế ghi nhận nhiều kết quả tích cực, chỉ có 12/34 tỉnh, thành phố đạt mức tăng trưởng hai con số. Bài toán đặt ra không chỉ là huy động thêm nguồn lực, mà còn là nâng cao năng lực thực thi và chuyển hóa nguồn lực thành giá trị thực chất.