TP. Hồ Chí Minh: Đặt ngưỡng định lượng để chuyển đổi khu công nghiệp sang mô hình sinh thái

TP. Hồ Chí Minh đang hoàn thiện dự thảo Nghị quyết của HĐND Thành phố về tiêu chí khu, cụm công nghiệp sinh thái và cơ chế hỗ trợ chuyển đổi các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động sang mô hình này...

Khu công nghiệp Vsip 2. Ảnh minh họa.
Khu công nghiệp Vsip 2. Ảnh minh họa.

Dự thảo Quy định tiêu chí khu, cụm công nghiệp sinh thái trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh không chỉ đưa ra các yêu cầu về môi trường, mà còn thiết lập một hệ thống tiêu chí định lượng về tiết kiệm tài nguyên, cộng sinh công nghiệp, tỷ lệ đất hạ tầng dùng chung và tỷ lệ doanh nghiệp sinh thái. Cùng với đó là lộ trình chuyển đổi 10 khu công nghiệp và 3 cụm công nghiệp đang hoạt động đến năm 2045, đi kèm các cơ chế hỗ trợ tài chính và trách nhiệm bồi hoàn nếu không thực hiện đúng cam kết.

ĐỊNH LƯỢNG THAY VÌ ĐỊNH TÍNH TIÊU CHÍ XANH

Ông Trần Thanh Tùng, Trưởng phòng Môi trường, Ban Quản lý các Khu chế xuất và Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (HEPZA), cho biết nền tảng của bộ tiêu chí được xây dựng trên hai khái niệm chính là sản xuất sạch hơn và cộng sinh công nghiệp.

Trong đó, sản xuất sạch hơn được hiểu là việc áp dụng liên tục các chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường nhằm nâng cao hiệu suất sử dụng tài nguyên, giảm chất thải và rủi ro đối với con người và môi trường. Cộng sinh công nghiệp là sự hợp tác giữa các doanh nghiệp nhằm tối ưu hóa việc sử dụng, tái sử dụng nguyên liệu, nước, năng lượng, chất thải, phế liệu, đồng thời dùng chung hạ tầng và dịch vụ.

“Doanh nghiệp sinh thái trước hết phải tuân thủ pháp luật về đầu tư, xây dựng, đất đai, môi trường, phòng cháy chữa cháy và lao động; đồng thời mỗi giải pháp phải giúp tiết kiệm tối thiểu 5% nguyên liệu, nước, năng lượng, hóa chất hoặc giảm ít nhất 5% chất thải, phế liệu”, ông Tùng nhấn mạnh.

Cụ thể, để được xem xét chứng nhận doanh nghiệp sinh thái, doanh nghiệp phải chứng minh việc tuân thủ trong hai năm trước thời điểm đăng ký ở 7 nhóm lĩnh vực gồm đầu tư, doanh nghiệp, xây dựng, đất đai, bảo vệ môi trường, phòng cháy chữa cháy và lao động.

Về hiệu quả sử dụng tài nguyên, dự thảo yêu cầu doanh nghiệp phải áp dụng tối thiểu 3 giải pháp về sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn hoặc kinh tế tuần hoàn. Mỗi giải pháp phải giúp tiết kiệm tối thiểu 5% lượng nguyên liệu, vật liệu, nước, năng lượng hoặc hóa chất sử dụng; nếu không đạt mức tiết kiệm này thì phải chứng minh khả năng giảm tối thiểu 5% chất thải, phế liệu phát sinh hoặc phát thải ra môi trường.

Đáng chú ý, với nhà đầu tư mới, dự thảo không áp dụng đơn thuần ngưỡng tiết kiệm 5% mà chuyển sang yêu cầu áp dụng giải pháp kỹ thuật tốt nhất hiện có (BAT) của nhóm các nước phát triển. Điều này cho thấy quan điểm của HEPZA không chỉ là “cải tạo” các khu công nghiệp hiện hữu, mà còn tạo ra một hàng rào kỹ thuật mới đối với dòng dự án đầu tư vào các khu, cụm công nghiệp sinh thái trong tương lai.

Đối với cụm công nghiệp sinh thái, dự thảo đặt yêu cầu 23% diện tích dành cho cây xanh, giao thông, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội dùng chung. Đối với cụm công nghiệp xây dựng mới, tỷ lệ cây xanh tối thiểu là 12%. Cụm phải có ít nhất một hoạt động cộng sinh công nghiệp, với các doanh nghiệp tham gia áp dụng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn ISO phù hợp.

Về doanh nghiệp, tối thiểu 10% số doanh nghiệp đang hoạt động trong cụm phải đạt tiêu chí doanh nghiệp sinh thái. Một phương án khác để đáp ứng tiêu chí là có trên 15% doanh nghiệp áp dụng giải pháp sản xuất sạch hơn. Đồng thời, cụm phải có giải pháp bảo đảm nhà lưu trú, dịch vụ và tiện ích công cộng cho người lao động.

Với khu công nghiệp sinh thái, yêu cầu được nâng lên một mức cao hơn. Tỷ lệ đất dành cho cây xanh, giao thông, hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội dùng chung tối thiểu 25%; đối với khu công nghiệp xây dựng mới là 28%, trong đó cây xanh tối thiểu 12% và hạ tầng xã hội tối thiểu 2%.

Mỗi khu công nghiệp phải có ít nhất 3 hoạt động cộng sinh công nghiệp và áp dụng hệ thống quản lý ISO phù hợp. Tối thiểu 25% doanh nghiệp trong khu phải áp dụng các giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn hoặc kinh tế tuần hoàn và chứng minh kết quả tiết kiệm nguyên vật liệu, năng lượng, hóa chất, phế liệu. Một phương án khác là có tối thiểu 10% doanh nghiệp đạt chuẩn doanh nghiệp sinh thái. Dự thảo đồng thời yêu cầu mỗi khu công nghiệp phải có ít nhất một trạm quan trắc không khí xung quanh và có giải pháp bảo đảm nhà lưu trú, dịch vụ, tiện ích công cộng cho người lao động.

Như vậy, nếu được thông qua, tiêu chí “sinh thái” sẽ không còn chỉ được nhìn nhận ở góc độ hạ tầng xanh. Một khu công nghiệp muốn được công nhận phải chứng minh được cả ba lớp: hạ tầng xanh, doanh nghiệp xanh và quan hệ cộng sinh giữa các doanh nghiệp. Đây cũng là lý do dự thảo đặt yêu cầu đối với chính nhà đầu tư hạ tầng: phải bảo đảm các dịch vụ hạ tầng thiết yếu và dịch vụ hỗ trợ cộng sinh công nghiệp; xây dựng cơ chế giám sát đầu vào – đầu ra; báo cáo định kỳ hằng năm; tuyên truyền về bảo vệ môi trường, kinh tế tuần hoàn và công khai báo cáo bảo vệ môi trường, trách nhiệm xã hội trên trang thông tin điện tử của doanh nghiệp. 

10 KHU CÔNG NGHIỆP, 3 CỤM CÔNG NGHIỆP VÀO LỘ TRÌNH CHUYỂN ĐỔI

Một điểm quan trọng khác của dự thảo là đưa ra lộ trình chuyển đổi đối với các khu, cụm công nghiệp đang hoạt động, thay vì chỉ áp dụng tiêu chí đối với các dự án mới.

Theo phần quy định về lộ trình chuyển đổi của dự thảo, 10 khu công nghiệp và 3 cụm công nghiệp đang hoạt động phải xây dựng phương án chuyển đổi, với mục tiêu hoàn thành lộ trình vào năm 2045. Danh sách sẽ được rà soát, điều chỉnh theo chu kỳ 5 năm. 10 khu công nghiệp gồm Hiệp Phước, Tây Bắc Củ Chi, Phú Mỹ II và mở rộng, Đại Đăng, Đồng An 2, Kim Huy, Phú Tân, Sóng Thần 3, Việt Nam – Singapore II và BW Supply Chain City. Ba cụm công nghiệp được nêu trong phần lộ trình chuyển đổi là Nhị Xuân, Tân Thạnh và Tân Quy Tây.

Đến năm 2045, 10 Khu công nghiệp, 3 cụm công nghiệp sẽ phải chuyển đổi xanh.
Đến năm 2045, 10 Khu công nghiệp, 3 cụm công nghiệp sẽ phải chuyển đổi xanh.

Đáng chú ý, cơ chế chuyển đổi không được thiết kế theo hướng yêu cầu nhà đầu tư tự bỏ toàn bộ nguồn lực. Dự thảo gắn lộ trình chuyển đổi với một gói chính sách hỗ trợ tài chính và đầu tư để giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp. Theo đó, nhà đầu tư hạ tầng khu, cụm công nghiệp hiện hữu muốn hưởng chính sách hỗ trợ phải điều chỉnh dự án đầu tư, trong đó xác định rõ ngành nghề thu hút đầu tư, phương án cộng sinh công nghiệp, cơ chế giám sát đầu vào – đầu ra, phương án trách nhiệm xã hội, lộ trình chuyển đổi và cam kết đạt tiêu chí sinh thái trong thời hạn 5 năm.

Đây là điểm quan trọng, bởi chuyển đổi khu công nghiệp sinh thái về bản chất là một quá trình đầu tư dài hạn, liên quan đồng thời đến hạ tầng, công nghệ, năng lượng, nước, chất thải, dữ liệu và tổ chức lại các doanh nghiệp thứ cấp.

Thông tin về chính sách hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp chuyển đổi xanh, bà Nguyễn Thị Lan Hương, Trưởng phòng Tổng hợp - Pháp chế HEPZA cho biết, dự thảo đề xuất hỗ trợ lãi suất ưu đãi thông qua Công ty Đầu tư Tài chính nhà nước TP. Hồ Chí Minh (HFIC) và Quỹ Bảo vệ môi trường Thành phố đối với các dự án đầu tư giải pháp sử dụng hiệu quả tài nguyên, sản xuất sạch hơn, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi công nghệ. Nhà đầu tư còn được miễn các loại phí, lệ phí khi thực hiện một số thủ tục hành chính trong lĩnh vực quy hoạch, xây dựng và môi trường; giảm 50% phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp; đồng thời được ưu tiên tham gia các chương trình hỗ trợ kỹ thuật và xúc tiến đầu tư.

Theo bà Hương, nhóm dự án chuyển đổi, tái cấu trúc các khu, cụm công nghiệp gắn với các lĩnh vực ưu tiên (liên quan đến tái cấu trúc ngành, công nghệ cao, công nghiệp sinh thái,…) có thể được hưởng cơ chế hỗ trợ lãi suất ở mức cao, trong đó có những dự án được đề xuất hỗ trợ 100% lãi suất theo cơ chế hỗ trợ của Thành phố.

Không chỉ nhà đầu tư hạ tầng, các doanh nghiệp thứ cấp cũng được đặt vào trung tâm của chính sách. Theo dự thảo, doanh nghiệp di dời vào khu, cụm công nghiệp có thể được đề xuất giảm 30% tiền thuê lại đất trong 5 năm đầu, giảm 30% tiền thuê nhà xưởng trong 2 năm đầu, với mức tối đa 500 triệu đồng/năm; đồng thời được hỗ trợ 50% chi phí vận chuyển, lắp đặt máy móc, tối đa 500 triệu đồng/cơ sở.

Ở chiều ngược lại, dự thảo đặt ra nguyên tắc hỗ trợ đi cùng cam kết. Nguồn kinh phí hỗ trợ được bố trí từ ngân sách Thành phố và kế hoạch đầu tư công trung hạn, cân đối hằng năm. Mỗi nội dung hỗ trợ chỉ được hưởng một mức cao nhất hoặc có lợi nhất và không áp dụng quá một lần. Đơn vị nhận hỗ trợ phải sử dụng đúng mục đích và chịu sự kiểm tra, thanh tra.

Đặc biệt, Dự thảo cũng quy định nếu sau thời hạn cam kết nhà đầu tư không đạt chứng nhận sinh thái, phần ưu đãi đã nhận có thể phải bồi hoàn, ngoại trừ trường hợp bất khả kháng hoặc do thay đổi chính sách của cơ quan quản lý nhà nước.

Nếu phát hiện hành vi trục lợi chính sách, dự thảo còn đưa ra một loạt biện pháp từ tạm dừng giải ngân, thu hồi khoản hỗ trợ đã nhận và lãi phát sinh, thu hồi phí và lệ phí được miễn giảm, không tiếp tục xét hỗ trợ trong một thời gian nhất định đến chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Cùng với đó, trường hợp nhà đầu tư đáp ứng các tiêu chí theo cam kết, dự thảo đề xuất cơ chế gia hạn thời gian hoạt động dự án tối đa 70 năm đối với khu công nghiệp công nghệ cao, khu công nghệ số tập trung và tối đa 50 năm đối với khu công nghiệp chuyên ngành, khu công nghiệp hỗ trợ. Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp khoa học – công nghệ sử dụng cơ sở kỹ thuật, cơ sở ươm tạo, khu làm việc chung cũng được hưởng các ưu đãi theo Nghị quyết 24/2026 của HĐND TP. Hồ Chí Minh. 

Một vấn đề khác được dự thảo đặt ra là cơ chế chứng nhận và giám sát. Giấy chứng nhận doanh nghiệp, khu, cụm công nghiệp sinh thái có thời hạn 5 năm. Doanh nghiệp và nhà đầu tư hạ tầng phải báo cáo hằng năm; kết quả giám sát là cơ sở để cơ quan quản lý cấp lại, thu hồi hoặc chấm dứt hiệu lực chứng nhận. Như vậy, chứng nhận không phải là “tấm vé” có giá trị cố định trong 5 năm mà đi kèm nghĩa vụ duy trì các tiêu chí trong suốt thời gian hiệu lực.

Khuyến công mở thêm nguồn lực cho chế biến nông sản ở nông thôn

Chính sách khuyến công không trực tiếp hỗ trợ trồng trọt, chăn nuôi hay nuôi trồng thủy sản, mà tập trung vào khâu phía sau của chuỗi giá trị như chế biến, bảo quản, hoàn thiện sản phẩm, đổi mới thiết bị và phát triển thị trường. Đây là những yếu tố quan trọng để nâng cao giá trị nông sản, thay vì chỉ tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô...

Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy