DÒNG VỐN FDI ĐANG DỊCH CHUYỂN THEO TIÊU CHUẨN CARBON
Theo Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), trong 6 tháng năm 2026, tổng vốn đầu tư đăng ký mới, điều chỉnh và góp vốn mua cổ phần, mua phần vốn góp (GVMCP) FDI đạt trên 34,6 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ. Vốn thực hiện của dự án đầu tư nước ngoài ước đạt trên 13,03 tỷ USD, tăng 11,2% so với cùng kỳ.
Tính lũy kế đến ngày 30/06/2026, cả nước có 47.132 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký trên 562,7 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế của các dự án đầu tư nước ngoài đạt 363,23 tỷ USD, bằng khoảng 64,5% tổng vốn đầu tư đăng ký còn hiệu lực.
Về cơ cấu vốn, tổng vốn đăng ký đạt 34,6 tỷ USD, tăng 61% so với cùng kỳ, vốn thực hiện đạt 13,03 tỷ USD, tăng 11,2%. Trong đó, điểm nổi bật trong 6 tháng đầu năm 2026 là mức tăng mạnh của vốn đăng ký mới (87,2%) và giá trị góp vốn, mua cổ phần (89,5%), cho thấy niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư Việt Nam tiếp tục được duy trì, đồng thời hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp diễn ra sôi động hơn. Trong khi đó, vốn điều chỉnh tăng 23,5%, phản ánh các nhà đầu tư hiện hữu vẫn tiếp tục mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam.
Điểm sáng hiếm hoi về dự án công nghệ cao quy mô lớn trong giai đoạn này là dự án Samsung Electro-Mechanics tại Thái Nguyên, được đánh giá là tín hiệu cho định hướng thu hút FDI có chọn lọc mà cơ quan quản lý đang theo đuổi: ưu tiên dự án công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, có khả năng liên kết với khu vực doanh nghiệp trong nước, thay vì chạy theo số lượng.
Đã có 85 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam trong 6 tháng năm 2026. Trong đó, Singapore dẫn đầu với tổng vốn đầu tư trên 10 tỷ USD, chiếm 29,1% tổng vốn đầu tư. Hàn Quốc đứng thứ hai với trên 8 tỷ USD, chiếm 23,13% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Malaysia, Trung Quốc, Hồng Kông với số vốn lần lượt là 2,9 tỷ USD; 2,8 tỷ USD và 2,5 tỷ USD. Bộ Tài chính đánh giá, xét 5 đối tác dẫn đầu đã chiếm khoảng 91% tổng vốn đầu tư, cho thấy dòng vốn FDI tiếp tục tập trung chủ yếu từ khu vực châu Á
Bức tranh vốn FDI đăng ký mới tăng mạnh nhưng quy mô dự án còn khiêm tốn, đa phần là các dự án lắp ráp, sản xuất gia công quy mô vừa và nhỏ đang phản ánh tâm lý nhà đầu tư nước ngoài "vừa đặt chân, vừa quan sát" trước khi quyết định mở rộng quy mô.
Theo các chuyên gia, chính sự dịch chuyển vốn theo tiêu chuẩn, không đơn thuần theo ưu đãi thuế hay giá thuê đất, sẽ là biến số quyết định trong trung hạn. Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU sau giai đoạn chuyển tiếp từ năm 2023, sẽ bắt đầu thu thuế carbon từ năm 2026 đối với các mặt hàng có cường độ phát thải cao như thép, xi măng, phân bón, nhôm, điện, hydro, nhóm mặt hàng đang được sản xuất tại nhiều khu công nghiệp Việt Nam.
Trong khi đó, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA, CPTPP đều đặt điều khoản môi trường, giảm phát thải, kinh tế tuần hoàn thành yêu cầu bắt buộc, không còn là cam kết mang tính khuyến nghị. Ở phía doanh nghiệp, các thương hiệu toàn cầu như Apple, H&M, IKEA đã công bố lộ trình cắt 30–50% phát thải phạm vi 3 và yêu cầu 100% nhà cung cấp sử dụng năng lượng tái tạo trong chuỗi cung ứng giai đoạn 2030–2040.
Ba lớp áp lực: thuế carbon, điều khoản FTA, tiêu chí lựa chọn nhà cung cấp, cộng dồn lại tạo thành một phép lọc mới đối với dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Áp lực này đang đặt ra bài toán: mô hình khu công nghiệp hiện tại có đủ sức giữ chân phần vốn chất lượng cao đang tìm nơi "đặt cược" hay không.
10% LÀ NGƯỠNG SỐNG CÒN CỦA CHUỖI CUNG ỨNG
Tính đến tháng 12/2025, cả nước có 485 khu công nghiệp với tổng diện tích 145,91 nghìn ha, trong đó 326 khu đang hoạt động với tỷ lệ lấp đầy 77%. Nhưng trong cơ cấu 485 khu công nghiệp đó, khu công nghiệp đa ngành chiếm tới 84,5%. Cả nước chỉ có 03 khu công nghiệp sau 8 năm xây dựng, triển khai hoạt động cộng sinh công nghiệp được Ban quản lý Khu công nghiệp chứng nhận và công nhận là khu công nghiệp sinh thái, chiếm 0,61%.
Đây là khoảng cách mà Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn FDI đặt mục tiêu phải thu hẹp, với yêu cầu tỷ lệ khu công nghiệp sinh thái, bao gồm cả chuyển đổi và thành lập mới, phải đạt khoảng 10% tổng số khu công nghiệp trên cả nước.
Con số 10% là ngưỡng tối thiểu để doanh nghiệp Việt Nam không bị loại khỏi các chuỗi cung ứng đang tái định hình theo tiêu chuẩn phát thải thấp, đặc biệt trong các ngành thép, dệt may, nhựa, hóa chất, điện tử, nơi rủi ro rời chuỗi là hiện hữu nếu không chuyển đổi kịp thời.
Theo bà Nguyễn Trâm Anh, Quản lý Dự án Quốc gia Chương trình Khu công nghiệp sinh thái toàn cầu tại Việt Nam, Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO), doanh nghiệp chuyển đổi sớm sẽ giữ vững thị trường xuất khẩu, nâng giá trị thương hiệu và giảm chi phí vận hành dài hạn. Tính toán cho thấy, mô hình khu công nghiệp sinh thái có thể giúp doanh nghiệp giảm 10–20% chi phí năng lượng, giảm 20–30% lượng nước sử dụng thông qua tái chế, đồng thời dễ tiếp cận hơn với các nguồn vốn tín dụng xanh, quỹ khí hậu, quỹ JICA, WB, GCF.
Trao đổi tại hội thảo về chuyển đổi xanh và phát triển khu công nghiệp sinh thái tổ chức tại Đồng Nai cuối tháng 6/2026, ông Nguyễn Việt Hưng, đại diện Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), cho biết khung pháp lý cho mô hình này đã được đặt nền từ Luật Bảo vệ môi trường 2020, tiếp nối bằng Nghị định 35/2022/NĐ-CP về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế. Và gần đây được cụ thể hóa bằng Thông tư 05/2025/TT-BKHĐT hướng dẫn xây dựng khu công nghiệp sinh thái, bao gồm các nội dung về cộng sinh công nghiệp, cơ sở dữ liệu sử dụng hiệu quả tài nguyên, tiêu chí xác định diện tích cây xanh và hạ tầng dùng chung, cùng quy trình chứng nhận và giám sát.
Cùng với đó, Nghị quyết số 306/NQ-CP điều chỉnh quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn 2050, đã xác định rõ định hướng giảm dần các khu công nghiệp có nguy cơ ô nhiễm cao, ưu tiên mô hình khu công nghiệp sinh thái, thông minh, chuyên ngành.
Tuy vậy, giữa khung chính sách và thực tiễn triển khai vẫn còn khoảng cách đáng kể. Theo ông Hưng, việc chuyển đổi một khu công nghiệp truyền thống sang mô hình sinh thái đòi hỏi giải quyết đồng thời nhiều vấn đề kỹ thuật liên ngành, từ tái sử dụng chất thải rắn, nước thải, đến tích hợp năng lượng tái tạo, trong khi cơ chế phối hợp liên bộ cho các vấn đề này vẫn đang trong quá trình hoàn thiện.
Do dó, ở chiều chính sách thu hút đầu tư, hướng đi nên được xác định thời gian tới là gắn trực tiếp mô hình khu công nghiệp sinh thái với việc đón dòng vốn FDI thế hệ mới, áp dụng quy trình đầu tư đặc biệt cho các dự án công nghệ chiến lược quy mô lớn có cam kết chuyển giao công nghệ. Đồng thời khuyến khích tổ chức tín dụng cấp tín dụng xanh, cho phép doanh nghiệp đầu tư nước ngoài khấu hao nhanh tài sản xanh và miễn thuế nhập khẩu thiết bị phục vụ chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
Với các địa phương và Ban quản lý Khu công nghiệp, đại diện Bộ Tài chính khuyến nghị nên ưu tiên thu hút đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, công nghiệp bán dẫn và năng lượng tái tạo, đồng thời lồng ghép quy hoạch phát triển khu công nghiệp sinh thái vào quy hoạch tỉnh và xây dựng lộ trình chuyển đổi cụ thể cho các khu công nghiệp đang hoạt động, thay vì để việc chuyển đổi diễn ra một cách tự phát, thiếu định hướng đồng bộ.
Câu chuyện khu công nghiệp sinh thái, vì vậy, không còn nằm trong phạm trù chính sách môi trường đơn lẻ, mà đang gắn chặt với bài toán duy trì vị trí của Việt Nam trong bản đồ chuỗi cung ứng toàn cầu đang được vẽ lại theo các tiêu chuẩn carbon ngày càng khắt khe.
Với việc được xếp cùng nhóm các nền kinh tế lớn châu Á như: Nhật Bản, Ấn Độ và Singapore, Việt Nam không chỉ khẳng định vị thế là thị trường tiêu thụ nông sản ổn định mà đang trở thành mắt xích chiến lược không thể thiếu trong chuỗi giá trị nông nghiệp của Argentina...
Từng bị xem là loài cỏ dại mọc ven bờ ruộng, rau má ở làng cổ Đông Sơn (phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa) nay đã trở thành cây trồng chủ lực của nhiều hộ dân, mang lại nguồn thu nhập ổn định hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Sự chuyển đổi từ những ruộng hoa màu kém hiệu quả sang trồng rau má không chỉ nâng cao giá trị kinh tế trên cùng diện tích đất mà còn góp phần gìn giữ một loài cây đã gắn bó với vùng đất cổ suốt hàng nghìn năm.
Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu có nhiều biến động, Thổ Nhĩ Kỳ nổi lên như một thị trường trọng điểm và là “cửa ngõ” giao thương huyết mạch nối liền ba châu lục Á - Âu - Phi. Tuy nhiên, để biến tiềm năng thành các đơn hàng thực tế, doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động nhận diện thách thức về rào cản kỹ thuật, quản trị rủi ro tài chính và chuẩn hóa tiêu chuẩn Halal...
Trước tình trạng thiếu hụt nguồn cung dầu diesel (DO) tại nhiều cửa hàng bán lẻ trên địa bàn, UBND tỉnh Quảng Trị đã yêu cầu các sở, ngành và doanh nghiệp khẩn trương triển khai các giải pháp nhằm bảo đảm nguồn cung xăng dầu, không để ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống người dân...
Xuất khẩu tôm tiếp tục là điểm sáng của ngành thủy sản trong nửa đầu năm 2026 khi đạt tốc độ tăng trưởng hai con số, với động lực chủ yếu đến từ thị trường Trung Quốc và sự bứt phá của mặt hàng tôm hùm. Tuy nhiên, phía sau những con số tích cực, doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức từ chính sách thuế tại Hoa Kỳ và chi phí logistics gia tăng...
Theo thống kê mới nhất từ Bộ Tài chính, hiện cả nước có 859.048 doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97%. Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách hỗ trợ khu vực kinh tế này, nhưng trong quá trình thực thi vẫn còn nhiều điểm nghẽn cần sớm được tháo gỡ.
Từng bị xem là loài cỏ dại mọc ven bờ ruộng, rau má ở làng cổ Đông Sơn (phường Hàm Rồng, tỉnh Thanh Hóa) nay đã trở thành cây trồng chủ lực của nhiều hộ dân, mang lại nguồn thu nhập ổn định hàng trăm triệu đồng mỗi năm. Sự chuyển đổi từ những ruộng hoa màu kém hiệu quả sang trồng rau má không chỉ nâng cao giá trị kinh tế trên cùng diện tích đất mà còn góp phần gìn giữ một loài cây đã gắn bó với vùng đất cổ suốt hàng nghìn năm.