Thưa bà, qua chuyến thăm Việt Nam lần này, bà đánh giá như thế nào về mối quan hệ hợp tác giữa Thụy Điển và Việt Nam, đặc biệt kể từ khi hai nước thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo?
Thụy Điển và Việt Nam đã có mối quan hệ hữu nghị lâu dài. Thụy Điển là quốc gia phương Tây đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam vào năm 1969. Trong chuyến thăm này tôi rất ấn tượng với tốc độ phát triển mạnh mẽ của Việt Nam, với mục tiêu đạt mức thu nhập cao vào năm 2045. Để đạt được những mục tiêu này, Việt Nam cần phát triển hạ tầng thông minh, thân thiện với khí hậu và chất lượng cao…
Quan hệ Đối tác chiến lược về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giữa Việt Nam và Thụy Điển được ký kết trong chuyến thăm Thụy Điển của Thủ tướng Phạm Minh Chính vào tháng 6/2025 đã mở ra một chương mới đầy triển vọng. Hơn nữa, Việt Nam đang có một lực lượng trẻ tài năng, đây là nguồn lực quý giá cho sự phát triển. Chúng tôi rất vui khi biết năm 2025 đã có hơn 300 sinh viên Việt Nam được nhận vào các trường đại học Thụy Điển, trong đó có 11 học bổng chuyên gia toàn cầu của Viện Thụy Điển (SISGP) và 8 học bổng nữ tiên phong về STEM.
Thụy Điển hiện đã sẵn sàng đồng hành cùng Việt Nam trên hành trình hướng tới mục tiêu này, nhất là trong lĩnh vực đổi mới, sáng tạo, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số…
Từ các kinh nghiệm cũng như năng lực chuyên môn và đổi mới sáng tạo của mình, cùng với tinh thần sẵn sàng đồng hành như vậy, Thụy Điển có thể hỗ trợ Việt Nam như thế nào trong các dự án hạ tầng quan trọng, chẳng hạn như đường sắt cao tốc Bắc-Nam hay chuyển đổi xanh cảng biển, thưa bà?
Thụy Điển xếp thứ hai trong Chỉ số Đổi mới toàn cầu 2025 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), với kinh nghiệm sâu rộng trong phát triển hạ tầng an toàn, hiệu quả và lấy con người làm trung tâm. Chúng tôi có thể hỗ trợ Việt Nam thông qua mô hình Triple Helix, tức là mô hình hợp tác giữa chính phủ, các nhà khoa học và doanh nghiệp để biến đổi mới thành hành động thực tiễn.
Chúng tôi đã cam kết cung cấp 21,28 triệu USD cho Quỹ Khí hậu Việt Nam, tập trung vào dự án năng lượng mặt trời tại các tỉnh miền Trung và chuyển giao công nghệ pin lưu trữ từ Northvolt để giảm phụ thuộc than đá. Chúng tôi thảo luận về việc hỗ trợ 15,96 triệu USD cho hệ thống xe buýt điện sử dụng pin từ Volvo trong dự án "Thành phố Xanh 2030" tại TP.HCM.
Đối với đường sắt cao tốc Bắc - Nam và cảng biển xanh, các doanh nghiệp như: ABB, Atlas Copco và Scania có thể cung cấp giải pháp carbon thấp và logistics thông minh. Tại Hải Phòng, chúng tôi thúc đẩy hợp tác với Cảng Gothenburg để xây dựng cảng không phát thải, tạo 1.000 việc làm địa phương đến năm 2028 theo dự báo từ Vattenfall.
Ngoài ra, các doanh nghiệp Thụy Điển như: ABB, Atlas Copco, Ericsson, Volvo, SKF và nhiều công ty khác đã đóng góp vào quá trình hiện đại hóa công nghiệp và phát triển hạ tầng cảng biển của Việt Nam.
Thông qua việc mở rộng và củng cố quan hệ đối tác hiện có, Thụy Điển có thể hỗ trợ Việt Nam xây dựng hệ thống giao thông carbon thấp, kết nối số và có sức cạnh tranh toàn cầu, góp phần vào chuyển đổi xanh của quốc gia
Hiện Việt Nam đang thực hiện nhiều chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư từ nước ngoài. Liệu Việt Nam có thể trở thành điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư Thụy Điển không? Bà nhận định thế nào về khả năng mở rộng hiện diện của doanh nghiệp Thụy Điển tại Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực xanh và đổi mới sáng tạo?
Việt Nam là đối tác năng động và có tầm nhìn xa của Thụy Điển tại Đông Nam Á, nhờ nguồn nhân lực chất lượng cao, nền công nghiệp mở rộng nhanh và cam kết phát triển xanh như Net Zero vào năm 2050. Niềm tin và sự cởi mở giữa hai bên là yếu tố then chốt, với kim ngạch xuất nhập khẩu chỉ giữa Hải Phòng và Thụy Điển đã đạt hơn 160 triệu USD năm 2024 và hơn 120 triệu USD trong 9 tháng năm 2025 là rất đáng mừng.
Các doanh nghiệp Thụy Điển coi Việt Nam không chỉ là thị trường mà còn là đối tác lâu dài trong đổi mới bền vững. Chúng tôi dự đoán doanh số xuất khẩu thiết bị xanh sang Việt Nam sẽ tăng 20% trong năm 2026, đạt 212,8 triệu USD. Tiềm năng mở rộng lớn trong lĩnh vực xanh. Chúng tôi đã thành lập Nhóm công tác Doanh nghiệp Xanh Thụy Điển - Việt Nam, hỗ trợ tài chính 53,2 triệu USD cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Tại Hải Phòng, các công ty như: ABB, Atlas Copco và SKF là đối tác chuỗi cung ứng của VinFast, cung cấp robot công nghiệp và linh kiện cao cấp. Chúng tôi cũng ký biên bản ghi nhớ với VCCI để đào tạo 500 lao động về kinh tế tuần hoàn, hơn 70 doanh nghiệp Thụy Điển đang hoạt động tại Việt Nam là minh chứng cho sức thu hút đầu tư này.
Thụy Điển và Việt Nam đều cam kết hành động vì khí hậu và tăng trưởng xanh. Thụy Điển đã chứng minh rằng tăng trưởng kinh tế và giảm phát thải có thể song hành. Những chính sách hoặc kinh nghiệm nào đã giúp Thụy Điển đạt được thành công đó và cách tiếp cận này có thể được vận dụng thế nào để hỗ trợ Việt Nam, thưa bà?
Chúng tôi đã chứng minh rằng tăng trưởng kinh tế và giảm phát thải có thể song hành: GDP của Thuỵ Điển tăng gấp đôi từ năm 1990, trong khi lượng khí thải giảm một nửa. Thành công này dựa trên các chính sách ổn định như định giá carbon, mua sắm xanh và mục tiêu khí hậu dài hạn (trung hòa carbon 2045). Mô hình Triple Helix thúc đẩy hợp tác giữa chính phủ, giới khoa học và doanh nghiệp, với đầu tư 692 triệu USD cho nghiên cứu xuất sắc và hạ tầng số. Chúng tôi cũng thu hút nhân tài toàn cầu, với hơn 40.000 sinh viên quốc tế năm 2022-2023, chiếm 10% tổng sinh viên.
Để vận dụng cho Việt Nam, chúng tôi sẵn sàng chia sẻ kinh nghiệm qua Tuyên bố chung về Hợp tác Biến đổi khí hậu, hỗ trợ kỹ thuật cho Chiến lược năng lượng quốc gia đến năm 2030. Ngay tại sự kiện Erasmus+ ở Hà Nội vào ngày 3/11/2025, chúng tôi giới thiệu hệ sinh thái đổi mới để Việt Nam áp dụng trong đào tạo quản lý carbon cho 1.000 doanh nghiệp và giảm phát thải methane từ nông nghiệp lúa nước…
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 45-2025 phát hành ngày 10/11/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-45-2025.html
Luật Công nghiệp công nghệ số đã mở rộng phạm vi nhân lực công nghệ số chất lượng cao, không chỉ bao gồm người Việt Nam (cả trong và ngoài nước) mà còn cả chuyên gia nước ngoài đáp ứng các tiêu chí do Chính phủ Việt Nam quy định. Để thu hút lực lượng này, luật đưa ra hàng loạt chính sách ưu đãi...
Sau nửa thế kỷ phát triển, Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam (VINATOM) không chỉ góp phần đưa công nghệ hạt nhân vào y tế, nông nghiệp, công nghiệp và môi trường mà còn đang chuẩn bị nguồn nhân lực, công nghệ và hạ tầng để đồng hành cùng Chương trình điện hạt nhân quốc gia trong giai đoạn mới.
Chỉ còn chưa đầy 6 tháng trước khi Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) được thực thi đầy đủ. Thách thức lớn nhất hiện nay không nằm ở tiêu chuẩn kỹ thuật mà ở tư duy, sự minh bạch và khả năng phối hợp giữa các doanh nghiệp. Vì vậy, việc xây dựng dữ liệu vùng nguyên liệu chính xác là điều kiện tiên quyết để bảo vệ uy tín của ngành cà phê Việt Nam trên thị trường quốc tế.
Nhu cầu nhà ở của đại đa số người dân lao động tại đô thị rất lớn nhưng nguồn cung nhà ở giá phù hợp lại vô cùng hạn chế. Trong khi đó, vẫn có nhiều khu đô thị bị bỏ hoang và hàng ngàn dự án vẫn “đắp chiếu” do vướng mắc pháp lý, tương đương với hàng triệu tỷ đồng đang bị “chôn” vào đất; quy hoạch đất đai cũng còn không ít bất cập; doanh nghiệp bất động sản gặp nhiều khó khăn trong quá trình triển khai dự án…
Với tổng vốn đầu tư lũy kế hơn 80 tỷ USD, Nhật Bản không chỉ là đối tác kinh tế hàng đầu mà còn là người bạn đồng hành tin cậy của Việt Nam qua nhiều thập kỷ. Trong bối cảnh Việt Nam đang quyết liệt chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ và chuyển đổi xanh, dư địa hợp tác giữa hai nước đang ngày càng mở rộng, đặc biệt là sau chuyến thăm Việt Nam vào tháng 5/2026 của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae.
Dưới tác động của biến đối khi hậu, tình trạng thời tiết, thiên tai diễn biến bất thường, cực đoan hơn, đòi hỏi công tác dự báo, cảnh báo sớm, giúp các ngành, địa phương và người dân chủ động ứng phó, giảm thiểu thiệt hại. Đặc biệt với các hiện tượng khí hậu như El Nino, ông Hoàng Đức Cường cho rằng khi nhận diện sớm nguy cơ, dự báo cảnh báo sớm sẽ giúp có thời gian chủ động lên kế hoạch sớm, có các giải pháp ứng phó, góp phần giảm thiểu ảnh hưởng, tác động đến hoạt động sản xuất và đời sống sinh hoạt của người dân.
Theo Ban Quản lý khu kinh tế Hải Phòng, trong việc quy hoạch và định hướng của Thành phố, thay vì chỉ phát triển khu công nghiệp, Hải Phòng đang hướng tới hình thành các chuỗi liên kết giữa khu công nghiệp, logistic, cảng biển, đô thị, dịch vụ theo mô hình của Singapore...