[Bài 3] Vai trò kiến tạo của Nhà nước đối với thị trường bảo hiểm hạ tầng
Nam Sơn*
Chọn cỡ chữ
Về dài hạn, có thể hình thành một chương trình quốc gia về nâng cao năng lực bảo hiểm hạ tầng, trong đó gắn ba cấu phần: dữ liệu rủi ro dùng chung, cơ chế đồng bảo hiểm cho dự án chiến lược và kết nối tái bảo hiểm quốc tế.
Lộ trình có thể bắt đầu từ 2026 - 2027 bằng việc xây dựng bộ dữ liệu rủi
ro hạ tầng, chuẩn hóa tiêu chí đánh giá năng lực doanh nghiệp và thí điểm một số
chương trình đồng bảo hiểm. Giai đoạn 2028-2030 tập trung vào mô hình hóa, Risk
Engineering, đào tạo nhân lực và hoàn thiện cơ chế chia sẻ dữ liệu.
Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 43-2026 phát hành ngày
26/10/2026 đăng bài viết với chủ đề: “Tham gia các siêu dự án hạ tầng, bảo hiểmphi nhân thọ trong nước cần nâng cấp năng lực”, trong đó đã đặt ra yêu cầu cho
các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nội địa: muốn tham gia những dự án hạ tầng
lớn phải nâng vốn, tăng năng lực thẩm định kỹ thuật, xây dựng dữ liệu, mô hình
hóa rủi ro, kiểm soát tích tụ và thiết kế chương trình tái bảo hiểm phù hợp.
Nhưng đến một giới hạn nhất định, thị trường sẽ đối mặt với một câu hỏi khác:
ai sẽ xây những năng lực mà một doanh nghiệp riêng lẻ không thể tự xây với chi
phí hợp lý?
KHOẢNG TRỐNG NĂNG LỰC CỦA THỊ TRƯỜNG
Quy mô ngày càng lớn và tính chất ngày càng phức tạp của các
dự án hạ tầng đang đặt ra những yêu cầu vượt quá khả năng của từng doanh nghiệp
bảo hiểm phi nhân thọ. Thị trường cần dữ liệu đủ rộng về bão, lũ, địa chất, quy
hoạch và lịch sử tổn thất; cần các mô hình đánh giá rủi ro được xây dựng trên
cơ sở dữ liệu đáng tin cậy; đồng thời, cần sức chứa tái bảo hiểm đủ lớn để xử
lý những rủi ro có mức tổn thất rất cao. Những nguồn lực này đòi hỏi thời gian,
chi phí và sự phối hợp trên quy mô toàn thị trường. Nếu mỗi doanh nghiệp tự đầu
tư và tự xây dựng một hệ thống riêng, chi phí sẽ tăng lên, dữ liệu bị phân tán
và kinh nghiệm khó được tích lũy thành năng lực chung.
Sứ mệnh của bảo hiểm hạ tầng trong kỷ nguyên siêu dự án
Làn sóng đầu tư hạ tầng quy mô lớn đang mở ra một thị trường mới cho ngành bảo hiểm phi nhân thọ, đồng thời đặt ra bài toán lớn về sức chứa và khả năng phân tán rủi ro.
Với những dự án trị giá hàng chục tỷ USD, câu chuyện không còn dừng ở việc mua một hợp đồng bảo hiểm, mà là xây dựng cả một cấu trúc từ đánh giá rủi ro, bảo hiểm, đồng bảo hiểm, tái bảo hiểm đến giám định và bồi thường. Chủ đầu tư và ngành bảo hiểm phi nhân thọ cần trả lời được bốn câu hỏi: Rủi ro được phân bổ như thế nào? Bao nhiêu năng lực bảo hiểm được giữ lại trong nước? Dữ liệu nào được tích lũy sau mỗi dự án? Ai thực sự đứng sau chương trình bảo hiểm khi tổn thất xảy ra?
Tạp chí Kinh tế Việt Nam xin giới thiệu loạt bài viết phân tích về chủ đề này.
Bài 3: Vai trò kiến tạo của nhà nước đối với thị trường bảo hiểm hạ tầng (Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 44-2026 ra ngày 2/11/2026).
Những khoảng trống này đặt ra vai trò của Nhà nước trong việc
hình thành những nền tảng chung cho thị trường bảo hiểm hạ tầng. Bên cạnh chính
sách về vốn, thuế và sự tham gia của doanh nghiệp có vốn nhà nước, trọng tâm
chính sách thời gian tới cần hướng tới việc xây dựng hạ tầng dữ liệu, hoàn thiện
chuẩn mực đánh giá rủi ro, tạo cơ chế chia sẻ và phân tán rủi ro, kết nối với
thị trường tái bảo hiểm quốc tế và hoàn thiện quy định đối với những loại rủi
ro đặc thù. Đây là những điều kiện tác động trực tiếp đến khả năng tham gia của
doanh nghiệp trong nước vào các dự án quy mô siêu lớn.
Mục tiêu của quá trình này là tạo dựng một thị trường, trong
đó doanh nghiệp bảo hiểm trong nước có thể nhận phần trách nhiệm phù hợp với vốn,
năng lực quản trị và khẩu vị rủi ro; đồng thời, từng bước nâng cao năng lực thẩm
định, định phí, quản lý rủi ro và giải quyết bồi thường. Năng lực được tích lũy
qua từng dự án sẽ tạo thêm cơ sở để doanh nghiệp nâng mức giữ lại trong những dự
án tiếp theo, góp phần nâng cao năng lực của toàn bộ thị trường nói chung.
TẠO THỊ TRƯỜNG ĐỂ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC CÓ CƠ HỘI TÍCH LŨY NĂNG LỰC
Với các siêu dự án hạ tầng, chính sách của Nhà nước nên tạo
cơ hội cho những doanh nghiệp bảo hiểm nội địa có năng lực thực sự tham gia sâu
vào cấu trúc bảo hiểm của các dự án hạ tầng chiến lược. Doanh nghiệp trong nước
có đủ điều kiện có thể đảm nhận vai trò bảo hiểm dẫn đầu hoặc cùng các doanh
nghiệp khác hình thành chương trình đồng bảo hiểm, sau đó thu xếp tái bảo hiểm
cho phần rủi ro vượt quá khả năng giữ lại. Đối với các dự án sử dụng vốn Nhà nước,
hồ sơ mời thầu và phương án lựa chọn bảo hiểm có thể xem xét đồng thời năng lực
tài chính, kinh nghiệm bảo hiểm công trình tương tự, khả năng tổ chức đồng bảo
hiểm và chương trình tái bảo hiểm.
Điểm quan trọng là doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cần tham
gia đủ sâu để tích lũy năng lực. Nếu doanh nghiệp chỉ đứng ở lớp phân phối hợp
đồng, trong khi toàn bộ thẩm định kỹ thuật, định phí, quản trị rủi ro và tái bảo
hiểm đều do nước ngoài thực hiện, thị trường trong nước sẽ không có nhiều cơ hội
học hỏi. Vì vậy, chính sách cần đặt mục tiêu hướng tới nội địa hóa năng lực:
doanh nghiệp Việt Nam được tham gia vào các khâu thẩm định, đánh giá rủi ro, quản
lý chương trình, xử lý bồi thường và trực tiếp làm việc với các nhà tái bảo hiểm
quốc tế.
Một công cụ cần nghiên cứu là cơ chế đồng bảo hiểm hoặc
“pool” cho các dự án hạ tầng lớn. Khi một doanh nghiệp không đủ sức chứa, nhiều
doanh nghiệp có thể cùng tham gia theo một cấu trúc thống nhất, có doanh nghiệp
dẫn đầu, nguyên tắc phân chia trách nhiệm, quy trình thẩm định và chương trình
tái bảo hiểm chung.
Một Cơ chế đồng bảo hiểm hạ tầng chiến lược có thể tập hợp
doanh nghiệp bảo hiểm dẫn đầu, các doanh nghiệp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp tái
bảo hiểm trong nước và các nhà tái bảo hiểm quốc tế. Cấu trúc này vừa tạo thêm
sức chứa, vừa tạo cơ hội để các doanh nghiệp Việt Nam cùng tích lũy dữ liệu và
kinh nghiệm.
DỮ LIỆU CẦN TRỞ THÀNH MỘT HẠ TẦNG CÔNG CỦA THỊ TRƯỜNG BẢO HIỂM
Trung Quốc đã sử dụng các mô hình đồng bảo hiểm trong một số
lĩnh vực rủi ro lớn và đặc thù, đồng thời chính sách về bảo hiểm cho các công
trình lớn cũng nhấn mạnh phát triển bảo hiểm kỹ thuật và tái bảo hiểm nhằm nâng
khả năng xử lý các rủi ro lớn.
Nếu phải lựa chọn một lĩnh vực mà Nhà nước có thể tạo ra giá
trị lớn nhất cho năng lực bảo hiểm hạ tầng, đó có thể là dữ liệu. Doanh nghiệp
bảo hiểm cần dữ liệu về khí tượng, thủy văn, địa chất, ngập lụt, bão, động đất,
quy hoạch, đặc điểm công trình, lịch sử tổn thất và bồi thường. Một phần lớn dữ
liệu này nằm ở các cơ quan Nhà nước hoặc các đơn vị thực hiện dự án. Nếu từng
doanh nghiệp tự thu thập, hệ thống dữ liệu sẽ phân mảnh và chi phí rất cao.
Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy một hạ tầng dữ liệu dùng chung
có thể trở thành nền tảng cho cả thị trường. Viện Phát triển Bảo hiểm Hàn Quốc
(KIDI) được thành lập từ năm 1983, ban đầu là tổ chức chuyên về định phí bảo hiểm
phi nhân thọ, sau đó mở rộng sang cả bảo hiểm nhân thọ. Đến tháng 1/2025, KIDI
có 42 doanh nghiệp thành viên và khoảng 300 chuyên gia. KIDI thu thập dữ liệu hợp
đồng và bồi thường do các doanh nghiệp bảo hiểm cung cấp trên toàn thị trường;
xử lý khoảng 70 triệu bản ghi mỗi tháng.
KIDI biến dữ liệu thành các dịch vụ mà doanh nghiệp bảo hiểm
có thể sử dụng trong định phí, thẩm định, đánh giá mức độ phù hợp của phí và quản
lý bồi thường. KIDI cũng phát triển mô hình thảm họa tự nhiên của Hàn Quốc từ
năm 2019; hiện tổ chức này cho biết mô hình được sử dụng để hỗ trợ định phí, thẩm
định, đánh giá thiệt hại và tính toán dự phòng.
Kinh nghiệm của Hàn Quốc về KIDI cung cấp một bài học quan
trọng, đó là thị trường cần một thiết chế đủ năng lực tập hợp dữ liệu phân tán,
chuẩn hóa, kiểm định và biến dữ liệu thành công cụ định phí và quản trị rủi ro.
Việt Nam có thể nghiên cứu một mô hình tương tự, theo đó Nhà nước có thể cung cấp
dữ liệu nền về thiên tai, địa chất, quy hoạch và công trình; doanh nghiệp bảo
hiểm và tái bảo hiểm đóng góp dữ liệu tổn thất, bồi thường và rủi ro; các viện
nghiên cứu và doanh nghiệp công nghệ tham gia xây dựng mô hình. Khi đó, dữ liệu
không còn chỉ là tài sản riêng của từng doanh nghiệp mà trở thành một phần của
hạ tầng công phục vụ thị trường bảo hiểm.
MỞ KHÔNG GIAN CHO BẢO HIỂM CÁC DỰ ÁN RỦI RO ĐẶC THÙ
Nghị định số 220/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026,
đã tạo thêm dư địa cho thị trường bảo hiểm xử lý những công trình có quy mô lớn,
kỹ thuật phức tạp hoặc rủi ro đặc thù. Đối với nhà máy điện hạt nhân và những
công trình chưa được quy định cụ thể, doanh nghiệp bảo hiểm và bên mua có thể
thỏa thuận về quy tắc, điều khoản, phí và mức khấu trừ trên cơ sở có bằng chứng
về việc doanh nghiệp hoặc tổ chức bảo hiểm nước ngoài đứng đầu nhận tái bảo hiểm
xác nhận nhận tái bảo hiểm theo các điều kiện đó. Quy định này cho phép điều kiện
bảo hiểm của những rủi ro phức tạp được hình thành trên cơ sở đánh giá thực tế
và khả năng thu xếp tái bảo hiểm, thay vì áp dụng cứng một khuôn khổ dành cho
các rủi ro thông thường.
Từ nền tảng này, khung pháp lý thời gian tới có thể tiếp tục
được hoàn thiện theo hướng tạo hành lang rõ hơn cho cơ chế đồng bảo hiểm và
pooling đối với các dự án đặc biệt lớn, qua đó cho phép nhiều doanh nghiệp
trong nước cùng tham gia và phân chia trách nhiệm theo năng lực thực tế. Với những
rủi ro vượt quá khả năng giữ lại của thị trường trong nước, cơ chế này có thể kết
nối với năng lực tái bảo hiểm quốc tế, đồng thời làm rõ vai trò của doanh nghiệp
bảo hiểm đứng đầu và nguyên tắc phân bổ trách nhiệm giữa các thành viên.
Bên cạnh đó, cần hoàn thiện cơ chế sử dụng kết quả đánh giá
của các tổ chức kỹ thuật và nhà tái bảo hiểm quốc tế đối với những công trình
có tính chất đặc thù hoặc chưa có nhiều dữ liệu lịch sử. Việc này sẽ giúp doanh
nghiệp bảo hiểm có thêm cơ sở để đánh giá rủi ro, xác định điều kiện bảo hiểm
và thu xếp tái bảo hiểm. Cùng với đó, chia sẻ dữ liệu rủi ro giữa chủ đầu tư,
cơ quan quản lý, doanh nghiệp bảo hiểm và tái bảo hiểm cần được thúc đẩy, nhất
là đối với các dự án lớn có khả năng tạo mức tích tụ rủi ro cao.
Một nội dung quan trọng khác là quản lý mức giữ lại dựa trên
năng lực thực tế của doanh nghiệp, thay vì áp dụng một tỷ lệ cơ học. Mức giữ lại
cần được xem xét trong mối quan hệ với vốn, mức tổn thất tối đa (PML), mức độ
tích tụ rủi ro và chương trình tái bảo hiểm của từng doanh nghiệp. Cách tiếp cận
này sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp có năng lực thực sự tham gia sâu hơn vào
các dự án lớn, đồng thời hạn chế việc nhận trách nhiệm vượt quá khả năng tài
chính và quản trị rủi ro.
NHÀ NƯỚC CÓ NÊN ĐỨNG Ở LỚP RỦI RO CUỐI CÙNG?
Kinh nghiệm của Vương quốc Anh cho thấy trong một số rủi ro
đặc biệt, Nhà nước có thể tham gia ở phần rủi ro mà thị trường bảo hiểm khó có
khả năng tự gánh chịu. Anh thành lập Pool Re năm 1993, sau khi các doanh nghiệp
bảo hiểm gặp khó khăn trong việc tiếp tục cung cấp bảo hiểm khủng bố. Đây là mô
hình hợp tác giữa Nhà nước và doanh nghiệp bảo hiểm, trong đó các doanh nghiệp
bảo hiểm cùng tham gia Pool Re và Chính phủ Anh có cơ chế bảo lãnh phía sau. Mô
hình này đã tạo ra một nguồn lực đáng kể để xử lý các tổn thất lớn.
Kinh nghiệm này cho thấy Nhà nước có thể tạo một tấm lưới an toàn phía sau thị trường đối với các rủi ro cực đoan trong trường hợp tổn thất vượt quá khả năng của các lớp bảo hiểm, đồng bảo hiểm.
Từ khi thành lập,
Pool Re đã chi trả hơn 634 triệu bảng cho 13 vụ khủng bố được công nhận, nhưng
chưa từng phải sử dụng đến khoản bảo lãnh của Chính phủ. Đến ngày 31/3/2026,
Pool Re có quỹ 7,4 tỷ bảng, mua thêm 2,75 tỷ bảng bảo hiểm từ thị trường quốc tế
và bảo vệ khoảng 2,3 nghìn tỷ bảng tài sản thương mại tại Anh. Pool Re hiện có
hơn 110 doanh nghiệp bảo hiểm tham gia và cũng huy động thêm nguồn lực từ thị
trường vốn thông qua trái phiếu thảm họa.
Kinh nghiệm này cho thấy Nhà nước có thể tạo một tấm lưới an
toàn phía sau thị trường đối với các rủi ro cực đoan trong trường hợp tổn thất
vượt quá khả năng của các lớp bảo hiểm, đồng bảo hiểm. Đối với những rủi ro đặc
biệt lớn, có tính chất quốc gia và vượt quá khả năng của thị trường bảo hiểm, cần
nghiên cứu khả năng Nhà nước tham gia ở lớp bảo hiểm cuối cùng.
TỪ CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM SANG CHÍNH SÁCH HẠ TẦNG
Để doanh nghiệp bảo hiểm trong nước có thể tham gia sâu hơn
vào các dự án lớn, chính sách bảo hiểm cần được đặt trong tổng thể chính sách
phát triển hạ tầng. Khả năng bảo hiểm của một công trình phụ thuộc trực tiếp
vào thiết kế, tiêu chuẩn kỹ thuật, địa điểm xây dựng, phương án thi công và các
biện pháp phòng ngừa tổn thất. Vì vậy, cơ quan quản lý xây dựng, giao thông,
năng lượng, môi trường, khí tượng và các lĩnh vực liên quan cần tính đến yêu cầu
quản trị rủi ro và khả năng bảo hiểm ngay trong quá trình chuẩn bị dự án.
Chính sách hạ tầng cần tạo điều kiện để hình thành một chu trình quản trị rủi ro xuyên suốt từ thiết kế, xây dựng đến vận hành công trình, trong đó bảo hiểm là một cấu phần của chu trình này. Đây cũng là cơ sở để tăng tính kết nối giữa chủ đầu tư, cơ quan quản lý, doanh nghiệp bảo hiểm và thị trường tái bảo hiểm, qua đó hình thành sức chứa phù hợp với quy mô và mức độ rủi ro của từng dự án.
Điều này cũng đặt ra yêu cầu đưa doanh nghiệp bảo hiểm, nhà
tái bảo hiểm và chuyên gia kỹ thuật tham gia sớm hơn vào các dự án quy mô lớn.
Tham gia từ sớm cho phép doanh nghiệp bảo hiểm đánh giá rủi ro, đưa ra yêu cầu
về phòng ngừa tổn thất và phối hợp với nhà tái bảo hiểm để xác định khả năng nhận
bảo hiểm. Khi đó, bảo hiểm trở thành một phần của quản trị rủi ro dự án, thay
vì chỉ được sử dụng như một công cụ khi tổn thất đã xảy ra.
Theo hướng này, chính sách hạ tầng cần tạo điều kiện để hình
thành một chu trình quản trị rủi ro xuyên suốt từ thiết kế, xây dựng đến vận
hành công trình, trong đó bảo hiểm là một cấu phần của chu trình này. Đây cũng
là cơ sở để tăng tính kết nối giữa chủ đầu tư, cơ quan quản lý, doanh nghiệp bảo
hiểm và thị trường tái bảo hiểm, qua đó hình thành sức chứa phù hợp với quy mô
và mức độ rủi ro của từng dự án.
NHÀ NƯỚC KIẾN TẠO, THỊ TRƯỜNG THỰC HIỆN
Tổng kết lại, các siêu dự án hạ tầng sẽ đặt thị trường bảo
hiểm phi nhân thọ Việt Nam trước một bài toán đòi hỏi sự chung tay của Nhà nước
và doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần vốn và chuyên môn, nhưng thị trường còn cần dữ
liệu, cơ chế chia sẻ rủi ro, tái bảo hiểm, chuẩn kỹ thuật và một khung pháp lý
đủ linh hoạt. Vai trò của Nhà nước vì vậy là kiến tạo những điều kiện mà thị
trường khó có thể tự xây dựng hiệu quả: hạ tầng dữ liệu, luật chơi, cơ chế
pooling, kết nối quốc tế và cơ chế phân tầng cho những rủi ro đặc biệt.
Về dài hạn, có thể hình thành một chương trình quốc gia về
nâng năng lực bảo hiểm hạ tầng, trong đó gắn ba cấu phần: dữ liệu rủi ro dùng
chung, cơ chế đồng bảo hiểm cho dự án chiến lược và kết nối tái bảo hiểm quốc tế.
Lộ trình có thể bắt đầu từ 2026 - 2027 bằng việc xây dựng bộ dữ liệu rủi ro hạ
tầng, chuẩn hóa tiêu chí đánh giá năng lực doanh nghiệp và thí điểm một số
chương trình đồng bảo hiểm. Giai đoạn 2028-2030 tập trung vào mô hình hóa, Risk
Engineering, đào tạo nhân lực và hoàn thiện cơ chế chia sẻ dữ liệu.
Nếu những nền tảng này được xây dựng đồng bộ, thị trường bảo
hiểm phi nhân thọ Việt Nam có thể từng bước nâng cao khả năng nhận và quản trị
rủi ro, tăng mức tham gia vào các dự án hạ tầng lớn, đồng thời hình thành năng
lực để giữ lại nhiều hơn những phần rủi ro phù hợp với sức chịu đựng của thị
trường.
(*) Nam Sơn, Chuyên gia độc lập.
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 44-2026 phát hành ngày 2/11/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tạiđây:
Chính phủ chính thức đưa thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng về 0% từ ngày 1/11/2026 đến hết ngày 31/3/2027. Ngay trong kỳ điều hành đầu tiên sau khi chính sách có hiệu lực, giá xăng E5RON92 giảm 1.804 đồng/lít, còn xăng E10RON95-III giảm 1.575 đồng/lít…
Dự kiến 2 tháng cuối năm 2026, ngân sách sẽ chi thêm khoảng 4 nghìn tỷ đồng để giảm thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng từ 7% xuống 0%, nâng tổng nguồn lực dành cho các chính sách giảm thuế, phí xăng dầu từ đầu năm lên khoảng 68.000 tỷ đồng. Biện pháp này nhằm góp phần giảm áp lực tăng giá, hỗ trợ kiểm soát lạm phát theo mục tiêu 4,5%...
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh yêu cầu minh bạch tài chính, chứng minh năng lực trả nợ để tạo cơ sở cho ngân hàng cấp tín dụng, đồng thời cảnh báo tình trạng doanh nghiệp sử dụng hai hệ thống báo cáo tài chính khác nhau cho mục đích kê khai thuế và vay vốn...
Bám giá vàng thế giới, so với đầu tháng 10, giá mua, bán vàng miếng SJC các hệ thống lớn đều giảm phổ biến 5,3 triệu đồng/lượng mỗi chiều. Đối với vàng nhẫn “4 số 9” tổng mức giảm dao động từ 5,8 triệu đến 9 triệu đồng/lượng, tuỳ doanh nghiệp…
Doanh nghiệp, hộ kinh doanh có doanh thu dưới 10 tỷ đồng/năm sẽ được giảm 30% thuế thu nhập ngay khi kê khai hoặc tạm nộp từng kỳ và áp dụng trong kỳ tính thuế 2026 và 2027. Nếu doanh thu thực tế vượt 10 tỷ đồng, người nộp thuế phải hoàn trả toàn bộ khoản thuế đã được giảm…
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Năm 2027, tổng nguồn cung đất san lấp, đá và cát xây dựng tại Thanh Hóa dự kiến đạt hơn 42 triệu m3. Việc đưa thêm các mỏ vào khai thác, kết hợp nguồn vật liệu từ các dự án thu hồi khoáng sản và sản xuất cát nhân tạo được kỳ vọng góp phần giảm áp lực thiếu hụt vật liệu phục vụ các công trình, dự án trên địa bàn.
Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...
Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...