Cải thiện môi trường không khí không chỉ là nhiệm vụ về môi trường và sức khỏe cộng đồng mà còn gắn chặt với quá trình chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính và thực hiện cam kết Net Zero.
Tại hội thảo "Khắc phục ô nhiễm và cải thiện chất lượng không khí tại Việt Nam: Từ chính sách đến hành động" vừa diễn ra, TS. Hoàng Dương Tùng, Chủ tịch Hội Không khí sạch Việt Nam cho rằng từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng để thiết lập nền tảng, kiểm chứng, hoàn thiện và làm rõ cơ chế quản trị chất lượng không khí vùng.
Ô nhiễm không khí vẫn xuất hiện theo thời kỳ, vượt quy chuẩn, trong đó nhiều hợp chất có thể tạo thành bụi mịn thứ cấp khiến quá trình xử lý ô nhiễm trở nên phức tạp hơn.
Theo các chuyên gia, ô nhiễm không khí là một thách thức lớn đối với sức khỏe cộng đồng và môi trường tại Việt Nam, góp phần làm gia tăng gánh nặng bệnh tật, tử vong sớm và gây ra những tổn thất kinh tế đáng kể. Các khu vực đô thị, trong đó có Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh, đã trải qua những giai đoạn chất lượng không khí kém, ảnh hưởng đến người dân.
Số liệu quan trắc môi trường cho thấy, tình trạng ô nhiễm không khí tại các đô thị lớn, đặc biệt là khu vực Hà Nội và các tỉnh phía Bắc. Giai đoạn 2023- 2025, nồng độ bụi mịn PM2.5 trung bình năm tại Hà Nội hiện dao động từ 47- 48 µg/Nm3,.
Đáng chú ý, thống kê ghi nhận có tới 1/3 số ngày trong năm chỉ số PM2.5 vượt giới hạn trung bình 24 giờ. Đợt ô nhiễm này thường kéo dài từ tháng 9 năm trước đến tháng 4 năm sau. Kết quả kiểm kê giai đoạn 2023- 2025 cho thấy, bụi mịn PM2.5 24.169 tấn/năm; bụi PM 10 30.072 tấn/năm; CO 526.264 tấn/năm.
Cải thiện môi trường không khí không chỉ là nhiệm vụ về môi trường và sức khỏe cộng đồng mà còn gắn chặt với quá trình chuyển đổi xanh, giảm phát thải khí nhà kính và thực hiện cam kết Net Zero.
Thực tế vận hành cho thấy, ô nhiễm không khí mang tính chất liên vùng. Một tỉnh có thể chịu ảnh hưởng từ địa phương lân cận và ngược lại, cũng có thể là nguồn gây ô nhiễm cho vùng khác.
Việt Nam hiện đã có nhiều nền tảng pháp lý, chiến lược về môi trường và chất lượng không khí đang từng bước được hoàn thiện; mạng lưới quan trắc tiếp tục mở rộng, nhất là tại các đô thị lớn. Nguồn dữ liệu phục vụ quản lý ngày càng đa dạng, gồm quan trắc môi trường, khí tượng, nguồn thải, giao thông và hệ thống quan trắc khí thải tự động, liên tục...
Để những nền tảng pháp lý, kỹ thuật, dữ liệu trở thành một cơ chế quản trị vùng có khả năng vận hành thực chất, TS. Hoàng Dương Tùng đề xuất cần đáp ứng 6 điều kiện.
Thứ nhất, thể chế và thẩm quyền phải rõ ràng. Cơ sở pháp lý cho phối hợp vùng có rõ mục tiêu, phạm vi, nguyên tắc phối hợp cũng như trách nhiệm và thẩm quyền của từng cấp, từng ngành. Cơ chế cũng cần quy định phương thức xử lý khi xảy ra ô nhiễm cao, nhất là trong trường hợp nguồn phát thải và quá trình lan truyền vượt qua ranh giới hành chính.
Thứ hai, hình thành hệ thống dữ liệu và bằng chứng chung. Dữ liệu từ quan trắc, khí tượng, nguồn thải, giao thông và các nguồn liên quan cần được kết nối, chuẩn hóa, tích hợp và chia sẻ giữa các địa phương, ngành. Trên nền tảng đó, phát triển mô hình phân tích, dự báo ở quy mô vùng để xác định diễn biến ô nhiễm, đóng góp của các nguồn phát thải và tác động của điều kiện khí tượng. Khi đó, dữ liệu không chỉ phục vụ báo cáo mà trở thành cơ sở cho quyết định.
Thứ ba, cần một đầu mối điều phối đủ năng lực. Đầu mối này có nhiệm vụ tổng hợp dữ liệu, phân tích, tham mưu, điều phối giữa các địa phương và ngành, theo dõi thực hiện và vận hành nền tảng dữ liệu chung. Cùng với thẩm quyền là đội ngũ chuyên môn ổn định, có khả năng kết nối các lĩnh vực môi trường, khí tượng, giao thông, năng lượng, công nghiệp và quy hoạch đô thị.
Thứ tư, xác định rõ trách nhiệm của từng địa phương và ngành. Mỗi tỉnh, thành phố và ngành liên quan đặt mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể, được lồng ghép vào kế hoạch phát triển và chương trình công tác. Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm có tính liên tỉnh, liên ngành cần được tổ chức phối hợp, đi kèm cơ chế báo cáo, theo dõi và giải trình.
Thứ năm, bảo đảm nguồn lực ổn định. Quản trị vùng cần nguồn lực tài chính, kỹ thuật và nhân lực đủ để duy trì hoạt động thường xuyên. Ngân sách nhà nước cần dành nguồn lực cho quan trắc, hạ tầng dữ liệu, mô hình hóa, dự báo và đào tạo; đồng thời huy động nguồn lực xã hội, hợp tác quốc tế và nghiên cứu cơ chế chia sẻ chi phí giữa các địa phương, ngành.
Thứ sáu, đối với giám sát, đánh giá và giải trình, việc thực hiện cần được theo dõi bằng một bộ chỉ số thống nhất, đánh giá kết quả và công khai phù hợp. Quan trọng hơn, kết quả phải được sử dụng để điều chỉnh chính sách, kế hoạch và biện pháp kiểm soát ô nhiễm theo tình hình thực tế.




Hợp tác với các doanh nghiệp Trung Quốc trong lĩnh vực pin và xe điện đang mở ra cơ hội để Tây Ban Nha củng cố vị thế trong chuỗi giá trị ô tô châu Âu, trong bối cảnh ngành công nghiệp chuyển dịch sang xe điện…
Các kết quả từ kịch bản cung cấp cơ sở khoa học quan trọng hỗ trợ các bộ ngành, địa phương, tổ chức, doanh nghiệp và các bên liên quan nghiên cứu, tham khảo khai thác và sử dụng trong quá trình xây dựng chiến lược..., góp phần nâng cao năng lực chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; đảm bảo an toàn cho người dân, nền kinh tế và phục vụ phát triển đất nước bền vững trong thời kỳ mới...
Luật Khí tượng Thủy văn là khung pháp lý để quản lý hoạt động khí tượng thủy văn và xác lập rõ vai trò của thông tin khí tượng thủy văn trong hỗ trợ quản trị rủi ro thiên tai. Do đó, Luật cần được thiết kế trên toàn bộ chuỗi từ quan trắc, truyền nhận và quản trị dữ liệu, phân tích, giám sát biến đổi khí hậu đến dự báo, cảnh báo...
Các yêu cầu về chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, thực hành ESG đang được các thị trường, đối tác đặt ra ngày càng khắt khe. ESG không còn là lựa chọn, mà là yếu tố quan trọng quyết định sự sống còn của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia chuỗi cung ứng...
Các nhà khoa học Trung Quốc lần đầu tiên xây dựng bản đồ tế bào ba chiều theo không gian và thời gian, bao phủ toàn bộ vòng đời cây lúa từ khi hạt nảy mầm đến trổ hoa và hình thành hạt, tạo thêm công cụ cho nghiên cứu gene và phát triển giống mới…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và CHDCND Lào, cho rằng cần xây dựng chính sách hướng tới nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư, giúp giảm chi phí vay không chỉ cho Nhà nước mà cả những doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng từ xếp hạng tín nhiệm quốc gia.