
Khu hành lang tầng 3 trung tâm thương mại Vincom (Hà Nội), gian hàng da giày WT nằm khá “khiêm tốn” so với những thương hiệu nổi tiếng khác. Bù lại, những đôi giày từ da cá sấu, đà điểu, cá đuối… khiến mức giá giữa “nội” và “ngoại” không còn nhiều chênh lệch.
Vương Văn Thịnh, người sở hữu thương hiệu WT từng làm quản lý cấp cao một doanh nghiệp nhà nước lớn về da giày, nay tìm hướng đi riêng ở vị thế doanh nghiệp tư nhân.
“Tại sao lao động ngành da giày Việt Nam làm 12 tiếng một ngày mà lương vẫn thấp, vẫn nghèo!”, đó là điều đến giờ ông Thịnh vẫn còn tự hỏi, dù rằng đã làm cho liên doanh, cho nước ngoài thì năng suất công nhân đứng máy “không thể thấp được với họ”.
“Xuất khẩu da giày là nói cho vui thôi”, ông bảo thế. Khoảng 300 doanh nghiệp ngành da giày Việt Nam hiện nay, để xuất khẩu được thì gần như 100% là sử dụng thương hiệu của người khác, không được là chính mình.
Nguyên, phụ liệu thì chủ hàng nhập khẩu về, cán bộ kỹ thuật cũng đối tác đưa sang. Nói là chuyển giao kỹ thuật nhưng thực chất, công nhân Việt Nam chỉ thực hiện những công việc giản đơn nhất, bảo cắt thì cắt, ráp nối thì ráp nối...
“Mấy năm trước tôi làm xuất khẩu, tôi biết, giá đôi giày có là 100 USD thì chi phí gia công cũng chỉ từ 0,7-1 USD/đôi, gồm cả lương của ông tổng giám đốc cho đến cô lao công, toàn bộ khấu hao thiết bị, tiền điện nước, nhà sưởng, văn phòng phẩm…”, ông Thịnh nói, “Chỉ một đô mỗi đôi thì cách gì lương công nhân cao lên được!”.
Nhưng “đau” nhất là để làm ra đôi giày vẫn gắn mác ngoại hiện nay, người công nhân Việt cũng có thể làm tốt. Ông Thịnh cân nhắc, nếu nhập da của Ý, chất lượng nhân công đảm bảo thì chất lượng đôi giày cũng tương đương.
“Thế nên tôi muốn những phần giá trị gia tăng cao mình cũng phải được hưởng hết. Da mình mua loại tốt nhất, kê độn chưa tốt thì phải tiếp tục cải tiến thôi…”, ông nói chắc nịch. “Tôi cho rằng, muốn phát triển lâu dài, không dùng thương hiệu của mình thì suốt đời này mình đi gia công cho nước ngoài”.
Âm thầm chuẩn bị cả chục năm nay, chỉ vài năm gần đây, thương hiệu giày WT mới “khai khẩn” được một phần thị trường nội địa, chủ yếu ở phân khúc giày nam cao cấp, giá trung bình khoảng 1 triệu đồng/đôi.
Với đối tượng khách hàng nam, đặt nặng về chất lượng và kiểu dáng hơn giá tiền, WT là thương hiệu Việt duy nhất “sát cánh” cùng những Valentino, Giovanni… tại các trung tâm mua sắm nổi tiếng như Vincom, Parkson, Lotte...
“Không làm thương hiệu thì doanh nghiệp chỉ có chết, vấn đề là như thế”, ông Thịnh thẳng thắn. “Xây dựng thương hiệu riêng thì tất nhiên mình vất vả, nhưng lợi ích toàn diện, 100% là của mình. Một đôi giầy như thế, đâu phải tôi lời 1 USD được”.
“Tôi là doanh nghiệp tư nhân, tôi phải tính sao nhiều năm sau, doanh nghiệp của tôi vẫn tồn tại. Tôi chết đi thì doanh nghiệp vẫn còn, hết đời mình thì chuyển giao cho thế hệ sau…”, chủ sở hữu thương hiệu WT chém tay vào không khí, nói. “Thế thì phải dùng đến thương hiệu”.
“Mình không bỏ nhiều tiền quảng cáo, nhưng vẫn được nhiều người biết đến bằng cách đứng vào giữa đám đông, trong các trung tâm thương mại sang trọng”, ông Thịnh chia sẻ cách làm thương hiệu của mình.
Được người tiêu dùng chấp nhận, kinh doanh khá tốt, ông Thịnh cho biết, mỗi năm doanh thu từ kinh doanh tại 16 siêu thị, trung tâm thương mại trên toàn quốc tăng khoảng 20-30%.
Cạnh tranh vẫn phải dùng chất lượng, giá cả chỉ bằng 2/3 sản phẩm tương tự của nước ngoài, ông Thịnh tính toán vài năm nữa sản phẩm của ông sẽ tiêu thụ tốt hơn, khi người ta quen dùng hàng nội cao cấp.
“Hướng đi của WT là làm thương hiệu trên thị trường nội địa trước, để trên cơ sở đó mới chinh phục lại thị trường xuất khẩu. Tức là phải chắc chân trong nhà rồi mới ra ngoài được”, lời ông Thịnh.
Trong cấu thành sản phẩm của WT hiện nay, hầu hết là xuất xứ Việt Nam. Khoảng 80% là từ nguồn trong nước, chỉ trừ một số chi tiết bắt buộc phải nhập như đế chẳng hạn. Xu hướng là sẽ giảm tiếp vì công ty đang tìm thêm nhà cung cấp trong nước, bao gồm cả thuộc da ở miền Nam, không mua của nước ngoài nữa.
“Còn tất nhiên, khi tư tưởng sính ngoại vẫn còn, nhiều người vẫn quay lưng với hàng Việt, thì doanh nghiệp nội vẫn cần thêm thời gian…”, ông Thịnh bỗng nhiên chùng giọng.



Tự chủ công nghệ không nên được đo bằng số lượng sản phẩm “Make in Vietnam” được công bố, mà bằng giá trị những sản phẩm đó tạo ra và quan trọng hơn, Việt Nam có thêm bao nhiêu quyền lựa chọn khi môi trường kinh tế, công nghệ toàn cầu biến động… Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy đã có cuộc trao đổi với ông Hà Trung Kiên, Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghệ G-Group, về câu chuyện tự chủ công nghệ của Việt Nam trong kỷ nguyên AI và hội nhập quốc tế.
Nhiều quốc gia trên thế giới đã coi trọng việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa từ cách đây gần 80 năm, còn Việt Nam mới chỉ bắt đầu công cuộc này cách đây một phần tư thế kỷ. Vì vậy, vẫn còn rất nhiều việc cần làm để phát huy tối đa vai trò của khu vực này, đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển của đất nước.
Với phương châm “đã giao việc phải rõ người; đã nhận việc phải rõ thời hạn; đã cam kết phải có kết quả”, Thanh Hóa đang đặt yêu cầu cao hơn đối với các sở, ngành trong giải quyết khó khăn, vướng mắc của cộng đồng doanh nghiệp...
Chuỗi cung ứng toàn cầu đang mở ra một cuộc cạnh tranh mới, trong đó lợi thế không còn nằm chủ yếu ở chi phí mà ở khả năng duy trì sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn và tạo ra giá trị cao hơn. Trong bối cảnh đó, Việt Nam cần chuyển hóa lợi thế sản xuất hiện có thành vị trí sâu hơn trong chuỗi giá trị khu vực...
Bước sang giai đoạn thực thi đầy đủ của CBAM và các tiêu chuẩn ESG khắt khe, chuyển đổi xanh không còn là sự lựa chọn tự nguyện hay cam kết hình thức, mà đã trở thành mệnh lệnh sinh tồn đối với doanh nghiệp tại các khu công nghiệp...
Để thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW, cũng trong ngày 28/7/2026 Bộ Chính trị đã ký ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết với 40 chỉ tiêu và 51 nhiệm vụ, giải pháp cụ thể.
Số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mới giảm nhiều so với cùng kỳ năm 2025. Theo chuyên gia, điều này phản ánh xu thế chung về sức chống chịu của doanh nghiệp đang dần cạn kiệt. Sự biến động của lạm phát, xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí đầu vào tăng… đang bào mòn nguồn lực của doanh nghiệp, khả năng gánh rủi ro kéo dài ngày càng hạn chế.