“Đổi mới mô hình phát triển quốc gia cần được thực hiện dựa trên 5 thành tố chính, gồm: quản trị quốc gia, phát triển kinh tế, phát triển xã hội, quản trị môi trường, đối ngoại và phòng thủ quốc gia.
Thứ nhất, đổi mới mô hình quản trị quốc gia. Trước hết là đổi mới tổ chức bộ máy và phân công quyền lực nhà nước. Hiện nay, Việt Nam đang triển khai rất tích cực việc tái cấu trúc bộ máy theo hướng tinh gọn, rõ đầu mối. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là phải phối hợp quyền lực và phối hợp liên ngành như thế nào để không bị đứt gãy, phân mảnh, bảo đảm mọi hoạt động được vận hành nhịp nhàng, hiệu quả. Đồng thời, cần tiếp tục tăng cường phân cấp, phân quyền, cũng như tính toán hợp lý việc phân công quyền lực trong giai đoạn tới.
Bên cạnh đó, cần đổi mới thể chế pháp luật và phương thức quản trị vận hành. Theo đó, cần chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển; từ quản lý theo hành vi, quy trình sang quản lý theo mục tiêu và kết quả đầu ra; từ Nhà nước can thiệp sang Nhà nước kiến tạo và phát triển; từ quản lý cứng nhắc sang quản trị linh hoạt, thích ứng. Đồng thời, cần có cơ chế khuyến khích đội ngũ cán bộ thích ứng với thay đổi, thúc đẩy sáng tạo; xây dựng nền quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ số cùng hệ sinh thái số và dữ liệu đồng bộ, đầy đủ.
Thứ hai, đổi mới mô hình phát triển kinh tế. Trước hết, cần đổi mới thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bao gồm vai trò của các chủ thể trong nền kinh tế, cơ chế vận hành theo nguyên tắc thị trường, cũng như thể chế cho kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Chỉ khi đổi mới được thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới có thể tạo ra khuôn khổ phù hợp cho mô hình tăng trưởng quốc gia trong giai đoạn mới.
Thứ ba, đổi mới mô hình phát triển văn hóa - xã hội. Trong đó, cần đổi mới giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, với trọng tâm chuyển từ giáo dục kiến thức sang nâng cao năng lực và khả năng sáng tạo. Trong lĩnh vực y tế, cần chuyển từ mô hình lấy chữa bệnh làm chính sang chú trọng phòng bệnh, đồng thời tăng cường phối hợp giữa y tế công và tư, đẩy mạnh chuyển đổi số trong y tế. Cùng với đó, cần chủ động bảo đảm an sinh xã hội theo hướng bao trùm và bền vững; phát huy vai trò của văn hóa như một nguồn lực nội sinh, trở thành động lực cho phát triển đất nước.
Thứ tư, đổi mới mô hình quản trị môi trường. Trong đó, ESG có thể được xem là một thách thức, nhưng nếu được triển khai hiệu quả thì cũng sẽ trở thành công cụ quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh, thúc đẩy hội nhập, thu hút đầu tư và biến các tiêu chí này thành nguồn lực cho phát triển. Đồng thời, cần chuyển từ khai thác tài nguyên sang quản trị tài nguyên dựa trên các yếu tố xanh, giảm phát thải carbon và kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, nâng cao khả năng chống chịu trước biến đổi khí hậu.
Thứ năm, đổi mới đối ngoại và phòng thủ quốc gia. Về đối ngoại, cần thay đổi cách tiếp cận khi không chỉ tập trung vào mục tiêu kinh tế hay thu hút đầu tư như trước đây, mà phải hướng tới nâng cao vị thế, tiềm lực quốc gia và năng lực tự chủ chiến lược. Việc thu hút đầu tư, liên kết và hợp tác quốc tế cần luôn gắn với yêu cầu tăng cường nội lực, qua đó tạo thêm tiềm lực cho quốc gia trong bảo đảm tự chủ chiến lược. Bên cạnh đó, hoạt động quốc phòng và phòng thủ quốc gia cũng cần được đặt trong bối cảnh mới của hội nhập quốc tế, đồng thời gắn chặt với những tiến bộ của khoa học và công nghệ hiện đại”.
“Hải Phòng nhìn nhận đổi mới mô hình phát triển không đơn thuần là điều chỉnh cơ cấu kinh tế hay bổ sung thêm một số chương trình chuyển đổi số. Bản chất cốt lõi ở đây chính là sự chuyển đổi căn bản về tư duy phát triển, cách tổ chức nền kinh tế, phương thức quản trị đô thị và cách kiến tạo động lực tăng trưởng mới.
Thành phố đã lựa chọn mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; trong đó lấy con người làm trung tâm, tri thức và công nghệ làm nền tảng, đổi mới sáng tạo làm động lực, quản trị hiện đại làm công cụ tạo lợi thế cạnh tranh, và các không gian phát triển chiến lược của thành phố làm nơi hiện thực hóa khát vọng tăng trưởng mới.
Đặc biệt, Thành phố Hải Phòng xác định 4 trụ cột chiến lược của mô hình mới:
Một là, tái cấu trúc kinh tế dựa trên công nghệ cao: chuyển từ tư duy “thu hút sản xuất” sang “kiến tạo hệ sinh thái công nghiệp công nghệ cao”. Xây dựng các đô thị công nghiệp cảng biển xanh, sinh thái, kết nối cả trong thế giới thực và thế giới số. Tại đây, các nhà máy không chỉ có quy mô lớn mà phải là những “nhà máy thông minh”, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, tận dụng được lợi thế công nghệ, năng suất và đổi mới sáng tạo.
Hai là, kinh tế số và logistics thông minh. Kinh tế số không chỉ là xu thế công nghệ, mà là yêu cầu chiến lược để Hải Phòng giữ vững và nâng cao vị thế cạnh tranh quốc tế. Hải Phòng sẽ tập trung vào kinh tế dữ liệu, cảng biển thông minh, kinh tế biển xanh và các trung tâm logistics quy mô lớn gắn liền với đường sắt tốc độ cao và hàng không.
Ba là, quản trị đô thị dựa trên dữ liệu. Thành phố sẽ được quản trị bằng dữ liệu thời gian thực thông qua bản sao số đô thị (Digital Twin) và trí tuệ nhân tạo (AI), giúp chính quyền phân tích thông minh, dự báo sớm và ra quyết định nhanh chóng, chính xác và minh bạch, từng bước tái cấu trúc năng lực điều hành của chính quyền đô thị.
Bốn là, mở rộng thí điểm ứng dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ, ứng dụng mới và giải pháp thông minh để người dân được hưởng thụ các dịch vụ, tiện ích tốt nhất trong y tế, giáo dục, văn hóa, mở rộng cơ hội phát triển, gìn giữ, bảo tồn và phát huy các giá trị di sản, xây dựng thành phố đáng sống tầm cỡ quốc tế.
Để hiện thực hóa tầm nhìn này, Hải Phòng tập trung vào 6 nhóm giải pháp, gồm: đột phá về thể chế; xây dựng hạ tầng chiến lược; phát triển doanh nghiệp là trọng tâm của đổi mới mô hình phát triển; phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực chất; lấy con người làm trung tâm và mục tiêu của chuyển đổi số; hướng tới phát triển bền vững và phát huy giá trị bản sắc của thành phố”.
“Trong nhiều năm qua, mô hình tăng trưởng dựa trên các động lực truyền thống đã đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia, cải thiện đời sống người dân và tạo nền tảng cho sự phát triển của cả vùng.
Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển mới, đối với An Giang, chúng tôi nhận thấy mô hình tăng trưởng cũ đang dần chạm tới ngưỡng phát triển. Theo kịch bản tăng trưởng năm 2026 của tỉnh, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản dự kiến chỉ tăng khoảng 3,5-3,8%, trong khi khu vực công nghiệp, xây dựng và dịch vụ phải đạt mức tăng từ 10-14% mới có thể bảo đảm mục tiêu tăng trưởng GRDP trên 10%.
Điều đó cho thấy một thực tế là các động lực tăng trưởng truyền thống không còn đủ sức tạo ra những bước phát triển nhanh hơn cho nền kinh tế địa phương trong giai đoạn tới.
Từ thực tiễn đó, An Giang xác định việc đổi mới mô hình tăng trưởng ở cấp địa phương phải là sự chuyển đổi căn bản trong cách thức tạo ra tăng trưởng. Theo đó, cần chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào tài nguyên sang tăng trưởng dựa trên tri thức và dữ liệu; từ phát triển theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu; từ cạnh tranh bằng chi phí thấp sang cạnh tranh bằng công nghệ, chất lượng quản trị và năng suất; đồng thời, chuyển từ tăng trưởng dựa chủ yếu vào sản lượng sang tăng trưởng dựa trên giá trị gia tăng, năng suất và đổi mới sáng tạo.
Qua thực tiễn triển khai, An Giang nhận thấy rằng nếu không có sự phát triển đồng bộ về hạ tầng số, logistics, dữ liệu, nguồn nhân lực số, cùng với các cơ chế, chính sách đủ mạnh để khuyến khích đầu tư và thúc đẩy liên kết vùng, thì việc đổi mới mô hình tăng trưởng sẽ rất khó thực hiện, không chỉ đối với An Giang mà cả khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong thời gian tới.
Từ đó, tỉnh kiến nghị Trung ương tiếp tục quan tâm, hỗ trợ xây dựng cơ chế, chính sách và đầu tư đồng bộ nhằm tạo điều kiện cho các địa phương triển khai hiệu quả mô hình tăng trưởng mới, phù hợp với yêu cầu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới”.
“Văn kiện Đại hội XIV của Đảng đã bước đầu định hình khá đầy đủ những nội hàm cốt lõi của mô hình phát triển Việt Nam trong kỷ nguyên mới, từ bối cảnh phát triển, mục tiêu, quan điểm, cơ chế vận hành đến các nhiệm vụ trọng tâm và đột phá chiến lược. Trong đó, tập trung vào bốn nội dung quan trọng.
Thứ nhất, mô hình phát triển mới của Việt Nam xác định lấy con người làm trung tâm, năng lực tự chủ của quốc gia làm nền tảng; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chủ yếu; phát triển bền vững và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân là mục tiêu cao nhất. Đặc biệt, phát triển kinh tế phải gắn liền với tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển con người một cách toàn diện.
Bên cạnh đó, đổi mới mô hình phát triển cũng được đặt ra rất rõ trong bối cảnh quốc tế và trong nước. Văn kiện đồng thời chỉ ra những giải pháp trọng tâm nhằm hoàn thiện mô hình phát triển mới, đặc biệt là tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Trong đó, thể chế chính trị giữ vai trò trọng tâm, thể chế kinh tế là trung tâm, còn các thể chế khác giữ vai trò quan trọng và cần được hoàn thiện đồng bộ. Mục tiêu của quá trình này không chỉ là tháo gỡ các điểm nghẽn phát triển mà còn tạo dựng một hệ sinh thái mới cho tăng trưởng, đặc biệt ưu tiên các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Thứ hai, phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ đi cùng với phát triển con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây được xem là yếu tố quyết định để nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế trong dài hạn.
Thứ ba, phát triển hạ tầng tiếp tục được xác định là một nội dung trọng tâm trong đổi mới mô hình tăng trưởng. Nội hàm của hạ tầng không chỉ dừng ở hạ tầng kinh tế - xã hội truyền thống mà còn bao gồm hạ tầng phục vụ khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để thúc đẩy hình thành các động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.
Thứ tư, nâng cao vai trò của doanh nghiệp, nhất là khu vực kinh tế tư nhân. Trong bối cảnh phát triển mới, nếu tận dụng và phát huy tốt vai trò của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, Việt Nam sẽ có điều kiện thuận lợi hơn để thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh và tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế”.
“Thành phố Cần Thơ xác định lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực trọng tâm để chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, hướng tới nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, thành phố đã xây dựng tương đối đầy đủ cơ sở chính trị và pháp lý nhằm triển khai định hướng phát triển này một cách đồng bộ và bài bản.
Về mô hình phát triển, Cần Thơ định hướng tập trung vào các nội dung trọng tâm như phát triển kinh tế nhanh và bền vững dựa trên khoa học - công nghệ; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ; phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; hoàn thiện thể chế; đồng thời thúc đẩy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp.
Trong thời gian qua, thành phố Cần Thơ đã nỗ lực triển khai các nội dung của Nghị quyết số 57-NQ/TW và từng bước hình thành mô hình phát triển dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo thông qua nhiều giải pháp cụ thể.
Thứ nhất, tập trung xây dựng và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, tăng cường ký kết hợp tác với các cơ quan, đơn vị nhằm thúc đẩy kết nối giữa trường đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Đây được xem là nền tảng quan trọng để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và thương mại hóa các sản phẩm khoa học - công nghệ.
Thứ hai, thành lập Quỹ phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo nhằm hỗ trợ các hoạt động nghiên cứu, khởi nghiệp và phát triển công nghệ mới trên địa bàn.
Thứ ba, từng bước xây dựng các “bài toán lớn” gắn với nhu cầu phát triển thực tiễn, đồng thời ban hành cơ chế đặt hàng và giao nhiệm vụ nghiên cứu khoa học. Mô hình này bước đầu đã mang lại hiệu quả tích cực trong việc gắn nghiên cứu với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Thứ tư, tập trung phát triển mô hình nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp số, phù hợp với vai trò trung tâm của vùng Đồng bằng sông Cửu Long trong lĩnh vực nông nghiệp và chế biến nông sản.
Thứ năm, xây dựng mô hình phát triển dựa trên trung tâm dữ liệu và hệ thống điều hành số cho toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong quản lý, điều hành và phát triển kinh tế vùng.
Thứ sáu, đẩy mạnh xây dựng Trung tâm đổi mới sáng tạo trên địa bàn thành phố, hướng tới vai trò trung tâm đổi mới sáng tạo của khu vực.
Thứ bảy, từng bước hình thành khu công nghệ thông tin tập trung và khu công nghệ cao, tạo nền tảng thu hút doanh nghiệp công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế số. Theo đánh giá của thành phố, các mô hình này bước đầu đã phát huy hiệu quả tích cực trong thực tiễn.
Về tổ chức thực hiện, trong quá trình xây dựng mô hình Trung tâm đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp mang tầm khu vực tại Cần Thơ, thành phố đã thử nghiệm nhiều cách tiếp cận khác nhau. Ban đầu, mô hình chủ yếu do Nhà nước triển khai. Sau đó, thành phố mở rộng sang mô hình công ty cổ phần đổi mới sáng tạo nhằm huy động thêm nguồn lực xã hội. Đồng thời, Cần Thơ cũng từng bước giao cho doanh nghiệp chủ động triển khai một số mô hình đổi mới sáng tạo và phát triển công nghệ.
Đối với các mô hình khu công nghệ số, khu công nghệ thông tin tập trung và khu công nghệ cao, thành phố đã bước đầu xây dựng và đưa vào triển khai tương đối hiệu quả, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế số và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của địa phương trong thời gian tới”.
“Trong quá trình kiến tạo mô hình phát triển quốc gia trong kỷ nguyên mới, có hai vấn đề lớn mang tính căn cơ, có ý nghĩa quyết định đối với vị thế phát triển và năng lực cạnh tranh dài hạn của Việt Nam cần đặc biệt tập trung giải quyết.
Thứ nhất, Việt Nam phải giải quyết được bài toán chuyển đổi căn bản “logic phát triển quốc gia” trong bối cảnh thế giới đang bước sang một phương thức phát triển mới.
Trong phần lớn thế kỷ 20, sức mạnh quốc gia chủ yếu được quyết định bởi tài nguyên thiên nhiên, vốn, lao động giá rẻ và quy mô sản xuất công nghiệp. Nhưng trong thế kỷ 21, đặc biệt dưới tác động của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ số và kinh tế xanh, nền tảng cạnh tranh quốc gia đang dịch chuyển rất nhanh sang tri thức, công nghệ, dữ liệu và năng lực sáng tạo. Điều đó đặt ra cho Việt Nam một yêu cầu rất căn bản: phải chuyển từ mô hình phát triển dựa trên khai thác lợi thế sẵn có sang mô hình phát triển dựa trên kiến tạo lợi thế mới. Đây là sự thay đổi về chất của tư duy phát triển.
Đặc biệt, nhiệm vụ chiến lược của Việt Nam trong giai đoạn tới là phải chuyển mạnh từ tư duy “phát triển dựa vào nguồn lực sẵn có” sang tư duy “kiến tạo năng lực phát triển mới”. Trong mô hình đó thì khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực chủ đạo của tăng trưởng; dữ liệu phải được xác định là tài nguyên chiến lược; nguồn nhân lực chất lượng cao phải là năng lực cạnh tranh cốt lõi; doanh nghiệp đổi mới sáng tạo phải trở thành trung tâm của hệ sinh thái phát triển quốc gia.
Thứ hai, cần tạo ra một cuộc đổi mới mang tính đột phá về thể chế và năng lực quản trị quốc gia trong bối cảnh phương thức phát triển toàn cầu đang thay đổi sâu sắc.
Đặc biệt, trong giai đoạn tới, có ba vấn đề thể chế cần đặc biệt quan tâm: xây dựng thể chế đủ linh hoạt để thích ứng với tốc độ biến đổi rất nhanh của khoa học, công nghệ và kinh tế số; hình thành mô hình quản trị quốc gia dựa trên dữ liệu và điều hành thời gian thực, thay cho mô hình quản lý phân tán, phản ứng chậm và nặng về thủ tục; kiến tạo cơ chế phát triển đồng bộ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội, trong đó doanh nghiệp được xác định là trung tâm của đổi mới sáng tạo, còn con người là chủ thể trung tâm của phát triển.
Đổi mới mô hình phát triển quốc gia hiện nay thực chất không chỉ là thay đổi cách thức tăng trưởng, mà là tái kiến tạo toàn bộ nền tảng vận hành của quốc gia trong kỷ nguyên số. Đây không chỉ là yêu cầu phát triển, mà còn là yêu cầu mang tính chiến lược để Việt Nam hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045”.
“Có bốn trọng tâm quan trọng liên quan đến quá trình ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số hiện nay.
Thứ nhất, về thể chế, trong thực tế, quá trình cải cách thể chế thường được triển khai theo hướng từ trên xuống, nhưng phần lớn các ứng dụng có khả năng lan tỏa và mang lại lợi ích thiết thực cho đông đảo người dân lại thường bắt đầu từ nhu cầu thực tiễn ở cơ sở, tức là từ dưới lên. Một trong những giải pháp hiệu quả hiện nay là triển khai các mô hình thí điểm có kiểm soát. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều địa phương vẫn gặp khó khăn do chưa có cơ chế đủ rõ ràng để bảo vệ quyền chủ động đổi mới, đặc biệt về thẩm quyền, không gian thử nghiệm, thời gian triển khai và cơ chế cho phép đột phá về quy định đối với những địa phương dám nghĩ, dám làm và dám chịu trách nhiệm.
Thứ hai, người dân chính là đối tượng được phục vụ nên cần đặc biệt quan tâm tới trải nghiệm thụ hưởng của người dân trong quá trình chuyển đổi số. Những công nghệ phục vụ quản lý như giám sát, sàng lọc, truy vết, đánh giá hay dự báo đều rất cần thiết, nhưng như vậy vẫn chưa đủ, bởi phần lớn mới dừng ở vai trò công cụ hỗ trợ quản lý cấp cao mà chưa trực tiếp giúp nâng cao năng suất và hiệu quả ở cấp cơ sở.
Dữ liệu là yếu tố vô cùng quan trọng, nhưng trải nghiệm của người dùng có lẽ còn quan trọng hơn. Hiện nay, nhiều mô hình ngôn ngữ lớn hay công nghệ trí tuệ nhân tạo chủ yếu tập trung xây dựng “trợ lý thông minh” phục vụ cơ quan quản lý nhà nước, trong khi chưa thật sự khuyến khích việc tối ưu nguồn lực xã hội thông qua hỗ trợ kinh tế số cho các hộ kinh doanh vừa, nhỏ và siêu nhỏ.
Thứ ba, tri thức bản địa trong ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số tính đồng bộ, liên thông về dữ liệu là rất cần thiết. Tuy nhiên, đặc trưng địa phương và bản sắc văn hóa cũng cần được tôn trọng và gìn giữ. Điều đó đồng nghĩa với việc phải tối ưu hóa mức độ hài lòng của người dân và đối tượng thụ hưởng nhưng không làm mất đi bản sắc riêng của từng địa phương.
Thứ tư, cần kiến tạo môi trường khuyến khích và nuôi dưỡng các ý tưởng sáng tạo trong ứng dụng công nghệ mới. Nếu không dám thử nghiệm và ứng dụng công nghệ mới thì sẽ rất khó tạo ra các bước phát triển đột phá”.
“Một quốc gia muốn phát triển nhanh và bền vững cần phải có triết lý đúng về mô hình phát triển và quản trị quốc gia. Triết lý ở đây có thể được hiểu là hệ thống những quan điểm cốt lõi và nền tảng, đóng vai trò định hướng cho tư duy và hành động của các chủ thể trong quá trình phát triển. Đối với quản trị quốc gia, đó là hệ thống quan điểm nền tảng định hướng cho cách thức tổ chức, vận hành và phát triển đất nước trong dài hạn.
Theo đó, có ba nhóm triết lý cần được chú trọng:
Thứ nhất, nhóm triết lý về mục tiêu phát triển. Trong nhóm này có bốn nội dung cốt lõi. Một, triết lý phát triển vì con người, trong đó người dân vừa là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, đồng thời cũng là động lực của sự phát triển. Mọi chính sách và mô hình phát triển cuối cùng đều phải hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện. Hai, triết lý quản trị phát triển toàn diện và bao trùm, bảo đảm không bỏ sót lĩnh vực, không bỏ lại phía sau bất kỳ nhóm đối tượng nào trong quá trình phát triển. Ba, triết lý phát triển nhanh, nhằm tận dụng cơ hội của thời đại, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và rút ngắn khoảng cách phát triển với các nước tiên tiến. Bốn, triết lý phát triển bền vững, bảo đảm sự hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường và phát triển con người trong dài hạn.
Thứ hai, nhóm triết lý về động lực phát triển. Trong đó, động lực quan trọng đầu tiên là phát triển dựa trên tri thức; tiếp theo là dựa trên công nghệ; thứ ba là đổi mới sáng tạo; và cuối cùng là phát triển dựa trên dữ liệu.
Đặc biệt, phát triển công nghệ có vai trò vô cùng quan trọng trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, quản trị dựa trên tri thức vẫn là yếu tố không thể thiếu nhằm bảo đảm nền tảng cho hiệu quả, chất lượng và tính bền vững của quá trình phát triển. Công nghệ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được đặt trên nền tảng tri thức và năng lực quản trị phù hợp.
Thứ ba, nhóm triết lý về nội dung, bao gồm năm nội dung trọng tâm: (i) Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo phát triển, tạo môi trường thuận lợi và động lực cho các chủ thể trong nền kinh tế, (ii) thể chế phải đi trước một bước, giữ vai trò mở đường cho đổi mới và phát triển; (iii) tinh thần đổi mới sáng tạo cần được duy trì liên tục để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của bối cảnh mới; (iv) định hướng phát triển theo hướng mở, tăng cường kết nối và hợp tác trong nước cũng như quốc tế; (v) khả năng thích ứng linh hoạt trước những biến động của thế giới và nền kinh tế toàn cầu sẽ là yếu tố đặc biệt quan trọng để bảo đảm sự phát triển bền vững trong dài hạn”.
“Về mô hình phát triển kinh tế, có ba nội hàm quan trọng mà Việt Nam cần đặc biệt chú ý trong giai đoạn tới, trong đó cốt lõi là phải đặt con người ở vị trí trung tâm của quá trình phát triển.
Cụ thể, các chính sách phát triển kinh tế không chỉ hướng tới mục tiêu tăng trưởng đơn thuần mà cần gắn chặt với các chính sách xã hội và hệ thống an sinh xã hội, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội thụ hưởng thành quả phát triển. Đây cũng chính là vấn đề đặt ra đối với Việt Nam hiện nay: Làm thế nào để vừa duy trì năng suất, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, vừa xây dựng được hệ thống bảo trợ và an sinh xã hội hiệu quả, bao trùm và bền vững?
Đồng thời, cần tạo điều kiện để người dân được tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo dục và các cơ hội phát triển toàn diện. Đây cũng là nền tảng quan trọng để thúc đẩy các mục tiêu phát triển bền vững trong dài hạn.
Trong bối cảnh chuyển đổi mạnh mẽ hiện nay, việc tạo ra cơ hội việc làm bền vững và bảo đảm tiếp cận bình đẳng giới cũng cần được đặc biệt quan tâm. Thông qua đó, Nhà nước có thể từng bước nâng cao chất lượng phúc lợi xã hội và tạo điều kiện để mọi người dân đều có khả năng tham gia và thích ứng với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế. Đồng thời, cần hướng tới cách tiếp cận mang tính bao trùm hơn, tăng cường khả năng chống chịu của lực lượng lao động trước những biến động và thách thức mới trong tương lai.
Điều này đòi hỏi phải nâng cao nhận thức, tăng cường tri thức và kỹ năng cho người lao động nhằm bảo đảm khả năng tiếp cận công bằng và bền vững đối với các cơ hội phát triển mới.
Cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể liên quan và tạo điều kiện để doanh nghiệp cũng như người lao động chủ động tham gia, sẵn sàng thích ứng trước những cú sốc và biến động có thể xảy ra trong quá trình phát triển.
Ngoài ra, việc mở rộng khả năng tiếp cận việc làm trong quá trình chuyển đổi hiện nay cũng là yêu cầu rất quan trọng, đặc biệt trong việc xây dựng và củng cố mạng lưới an sinh xã hội nhằm bảo vệ người dân trước các rủi ro kinh tế - xã hội. Phát triển kinh tế cần đi đôi với phát triển xã hội và phát triển con người. Thị trường lao động cũng cần được mở rộng trên cơ sở các chính sách phù hợp nhằm tạo điều kiện cho người lao động tiếp cận các cơ hội việc làm mới và nâng cao chất lượng việc làm.
Trong bối cảnh đó, khoa học - công nghệ và trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ là những yếu tố đặc biệt quan trọng để thúc đẩy năng suất lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường năng lực của thị trường lao động. Đồng thời, đây cũng sẽ là nền tảng để nâng cao hiệu quả quản trị và mở rộng năng lực thể chế, giúp Việt Nam chủ động hơn trong quá trình bước vào kỷ nguyên phát triển mới”.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 22 phát hành ngày 01/06/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-22-2026.html
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: