Nhiều năm qua, mô hình tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu dựa vào vốn, đất đai, lao động giá rẻ và ưu đãi FDI. Mô hình này từng tạo ra tốc độ tăng trưởng cao trong giai đoạn đầu phát triển, góp phần quan trọng đưa đất nước thoát nghèo và hội nhập quốc tế sâu rộng. Tuy nhiên, khi dư địa tăng trưởng theo chiều rộng dần thu hẹp, mô hình này đang bộc lộ rõ những giới hạn.
Thực tế, tại buổi làm việc ngày 20/5/2026 với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã thẳng thắn chỉ ra rằng nhiều nguồn lực quốc gia hiện vẫn đang bị “mắc kẹt”: Quy hoạch treo kéo dài, đất công và tài sản công sử dụng kém hiệu quả, vốn đầu tư công giải ngân chậm, dự án ách tắc bởi thủ tục hành chính rườm rà và tranh chấp pháp lý kéo dài.
Tâm lý e ngại trách nhiệm cùng sự phối hợp thiếu đồng bộ giữa các cơ quan cũng khiến nhiều nguồn lực chưa thể chuyển hóa thành động lực phát triển thực sự.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không còn chỉ là tháo gỡ các điểm nghẽn đơn lẻ, mà phải hình thành một mô hình phát triển mới dựa trên khả năng kết nối và cộng hưởng các nguồn lực của nền kinh tế.
Những định hướng mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm gợi mở cho thấy tư duy phát triển mới không còn dừng ở việc xử lý từng nút thắt riêng lẻ, mà hướng tới xây dựng một cơ chế cộng hưởng giữa các nguồn lực vật chất, thể chế, công nghệ và tinh thần xã hội.
Trọng tâm đầu tiên là cải cách thể chế theo hướng minh bạch, ổn định, nhất quán; chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm; xóa bỏ tư duy “không quản được thì cấm”. Trong mô hình tăng trưởng mới, thể chế không chỉ là công cụ quản lý mà trở thành bộ khuếch đại quan trọng của phát triển, tạo không gian để các nguồn lực vận động thông suốt và hiệu quả hơn.
Cùng với đó là yêu cầu kiểm kê, số hóa và giải phóng các nguồn lực đang bị ách tắc trong đất đai, vốn, tài sản công và các dự án đầu tư kéo dài nhiều năm. Đây được xem là bước giải phóng nguồn năng lượng phát triển còn đang bị “mắc kẹt” trong nền kinh tế, giúp chuyển hóa tiềm năng thành động lực thực tiễn.
Điểm đáng chú ý trong tư duy mới là việc đặt trọng tâm ngày càng lớn vào nguồn lực tinh thần và văn hóa. Khát vọng phát triển dân tộc, tinh thần đổi mới sáng tạo, niềm tin xã hội và trách nhiệm công vụ được nhìn nhận như những yếu tố có khả năng tạo sức bật dài hạn cho tăng trưởng, góp phần củng cố nền tảng nội sinh cho sự phát triển bền vững.
Trên cơ sở đó, nguồn lực sẽ được ưu tiên tập trung cho các cực tăng trưởng và các lĩnh vực có sức lan tỏa lớn như: trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, chuyển đổi số, năng lượng mới, logistics hay kinh tế xanh nhằm hình thành các trung tâm cộng hưởng mới của nền kinh tế.
Quan trọng hơn, vai trò của Nhà nước cũng được định hình lại, từ vị trí “phân bổ nguồn lực” sang “kiến tạo môi trường phát triển”, thúc đẩy sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, giới trí thức và người dân.
Nếu nhìn tổng thể, các định hướng trên đang cho thấy một logic phát triển mới theo chiều giải phóng nguồn lực, kết nối nguồn lực đến tạo hiệu ứng cộng hưởng và kiến tạo động lực tăng trưởng mới. Đây có thể là bước chuyển đáng chú ý trong tư duy phát triển của Việt Nam giai đoạn tới.
Từ những gợi mở trên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, có thể hình dung một khung phát triển mới theo hướng “Cộng hưởng kiến tạo nguồn lực”, trong đó tăng trưởng không chỉ dựa vào mở rộng vốn đầu tư hay khai thác tài nguyên, mà được tạo ra từ khả năng kết nối, kích hoạt và nhân lên giá trị của các nguồn lực.
Trong mô hình này, nguồn lực vật chất như đất đai, vốn, hạ tầng, lao động và FDI tiếp tục giữ vai trò nền tảng, nhưng không còn là động lực duy nhất.
Khi các dư địa tăng trưởng truyền thống dần thu hẹp, yêu cầu đặt ra là phải tạo cơ chế để các nguồn lực này được vận hành hiệu quả hơn thay vì tiếp tục phát triển theo chiều rộng.
Đi cùng với đó, thể chế được xem là “bộ khuếch đại” quan trọng nhất của tăng trưởng. Một môi trường pháp lý minh bạch, ổn định; thủ tục hành chính đơn giản; cơ chế hậu kiểm hiệu quả và phân bổ nguồn lực theo hiệu quả, năng suất và sức lan tỏa có khả năng giải phóng các nguồn lực đang bị ách tắc và tạo dư địa phát triển mới.
Bên cạnh các nguồn lực vật chất và thể chế, nguồn lực tinh thần và văn hóa được xác định là động lực nội sinh quan trọng. Đó là khát vọng phát triển dân tộc, tinh thần tự cường, niềm tin xã hội, năng lực sáng tạo và ý chí đổi mới.
Đây là những yếu tố khó đo đếm bằng số liệu kinh tế, nhưng có khả năng tạo sức bật dài hạn cho nền kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0 và cạnh tranh toàn cầu.
Điểm cốt lõi của mô hình là cơ chế “đồng pha cộng hưởng” giữa các nguồn lực trong đó khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và dữ liệu làm ngòi nổ.
Khi thể chế minh bạch, môi trường phát triển ổn định và tinh thần trách nhiệm, khát vọng sáng tạo được khơi dậy, các nguồn lực vật chất sẽ được sử dụng hiệu quả hơn và tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn. Ngược lại, nếu thể chế trì trệ và niềm tin xã hội suy giảm, ngay cả nguồn lực dồi dào cũng có thể rơi vào tình trạng ách tắc và phân tán.
Cách tiếp cận này cho thấy động lực tăng trưởng mới không chỉ đến từ tích lũy vốn hay mở rộng đầu tư theo chiều rộng, mà ngày càng phụ thuộc vào tri thức, đổi mới sáng tạo, chất lượng thể chế và khả năng kết nối các nguồn lực trong nền kinh tế. Đây cũng là xu hướng mà nhiều quốc gia đang theo đuổi trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng mạnh mẽ.
Từ góc độ đó, mô hình tăng trưởng mới có thể được nhìn nhận như một mô hình phát triển dựa trên “Cộng hưởng kiến tạo nguồn lực”, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo môi trường phát triển, còn doanh nghiệp, giới trí thức và người dân trở thành các chủ thể cùng tham gia tạo động lực tăng trưởng.
Đặc trưng nổi bật của mô hình này là chuyển từ tăng trưởng dựa chủ yếu vào đầu vào sang tăng trưởng dựa trên năng suất và chất lượng; ưu tiên các lĩnh vực công nghệ cao, đổi mới sáng tạo và các cực tăng trưởng có khả năng lan tỏa mạnh. Đồng thời, yêu cầu tăng trưởng nhanh phải đi cùng chất lượng, tính bền vững và không đánh đổi môi trường, ổn định xã hội.
Nhìn rộng hơn, cách tiếp cận này không chỉ gợi mở hướng hoàn thiện mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn mới, mà còn cung cấp cơ sở để tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kết nối và nhân lên các nguồn lực phát triển trong bối cảnh kinh tế số và chuyển đổi toàn cầu.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu xây dựng năng lực nghiên cứu, dự báo và tham mưu chiến lược đủ mạnh cho Trung ương; tổ chức lực lượng theo các vấn đề lớn của đất nước, huy động người tài linh hoạt và lấy đóng góp thực chất cho quyết sách làm thước đo đối với hoạt động nghiên cứu.
Trường hợp các yêu cầu, quy định quốc tế có thay đổi thì nghiên cứu điều chỉnh phù hợp. Không nên đặt thêm yêu cầu kiểm kê hằng năm khi chưa cần thiết, nhất là trong bối cảnh đang hoàn thiện chính sách để tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và thúc đẩy mục tiêu tăng trưởng cao.
Dù Luật Đất đai 2024 có nhiều đổi mới nhưng thực tiễn thi hành vẫn phát sinh không ít vướng mắc. Việc sửa đổi Luật nhằm tháo gỡ các "điểm nghẽn", đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cải cách thủ tục hành chính cho chính quyền địa phương 02 cấp. Qua đó, khơi thông nguồn lực đất đai phục vụ mục tiêu tăng trưởng "hai con số"…
Phát biểu khai mạc Phiên họp thứ 7 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng các nội dung trình Quốc hội, đặc biệt đối với các dự án luật lớn, có tác động sâu rộng…
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu lực lượng Công an quán triệt quan điểm “an ninh chủ động”, nâng cao năng lực nghiên cứu chiến lược, dự báo và cảnh báo sớm; phát hiện nguy cơ ngay từ khi mới hình thành, xử lý từ sớm, từ xa, từ nơi xuất phát.
Sau hơn 20 năm, ngành gỗ và nội thất Việt Nam đã vươn lên và nằm trong nhóm những trung tâm sản xuất lớn của thế giới. Tuy nhiên, phần lớn doanh nghiệp vẫn tập trung ở khâu sản xuất, trong khi năng lực thiết kế, xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường còn hạn chế. Để nâng cao giá trị gia tăng, ngành cần chuyển từ thích ứng sang chủ động kiến tạo và làm chủ chuỗi giá trị toàn cầu.
Công an tỉnh Đắk Lắk vừa bóc gỡ đường dây phân bón giả quy mô lớn, với hơn 24.000 tấn sản phẩm được đưa ra thị trường. Số hàng này được tiêu thụ thông qua khoảng 200 doanh nghiệp, đại lý tại nhiều tỉnh, thành phố.