Góp ý về Điều 4 dự thảo Luật liên quan đến tiêu chí xác định DNNVV, đại biểu Dương Khắc Mai (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) cơ bản thống nhất với ngưỡng quy định: số lao động bình quân năm trước liền kề không quá 300 người, nguồn vốn không quá 150 tỷ đồng hoặc doanh thu không quá 400 tỷ đồng.
Tuy nhiên, đại biểu đề nghị cần quy định rõ phương pháp xác định đối với doanh nghiệp mới thành lập chưa có số liệu, doanh nghiệp đa ngành và đặc biệt là cách xử lý khi doanh nghiệp vượt ngưỡng trong thời gian đang thụ hưởng chính sách. Đại biểu nhấn mạnh nguyên tắc không để việc doanh nghiệp phát triển tốt trở thành lý do đột ngột chấm dứt hỗ trợ đã cam kết.
Đồng tình với quan điểm này, đại biểu Đào Chí Nghĩa (Đoàn ĐBQH TP. Cần Thơ) lưu ý rằng trong thực tế, doanh nghiệp liên tục thay đổi quy mô khi doanh thu và lao động thay đổi trong ngắn hạn. Vì vậy, cần bổ sung nguyên tắc xác định tính ổn định theo số liệu bình quân trong một khoảng thời gian phù hợp, có cơ chế chuyển tiếp khi doanh nghiệp vượt ngưỡng để tiếp tục tạo động lực cho họ vươn lên, tránh sự đứt gãy về chính sách.
Ở một góc nhìn khác, đại biểu Vương Quốc Thắng (Đoàn ĐBQH TP. Đà Nẵng) cảnh báo về kẽ hở trục lợi chính sách khi áp dụng tiêu chí “số lao động sử dụng bình quân năm”, bởi doanh nghiệp dễ lách luật qua hợp đồng thời vụ. Ông đề xuất dự thảo Luật chỉ nên đưa ra tiêu chí khung và quy định ngưỡng cụ thể, điều chỉnh linh hoạt theo từng thời kỳ. Đáng chú ý, đại biểu đề nghị bổ sung tiêu chí “doanh nghiệp độc lập” (loại trừ công ty con do doanh nghiệp lớn sở hữu trên 50% vốn) nhằm ngăn chặn tình trạng “núp bóng” doanh nghiệp nhỏ và vừa để trục lợi nguồn lực nhà nước.
Trong khi đó, đại biểu Nguyễn Hữu Toàn (Đoàn ĐBQH tỉnh Lai Châu) mạnh dạn đề xuất xem xét bỏ điều kiện về số lượng lao động tại khoản 1 Điều 4, bởi một doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện về vốn và doanh thu mà tạo ra được nhiều việc làm thì càng xứng đáng được hỗ trợ để lớn mạnh. Đại biểu cũng kiến nghị cần làm rõ mốc giới hạn 150 tỷ đồng là “vốn chủ sở hữu” thay vì tổng nguồn vốn, nhằm phản ánh đúng thực chất doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp thương mại có vòng quay vốn rất lớn.
Bên cạnh bộ tiêu chí định danh, bài toán làm sao để đưa chính sách vào thực tiễn cũng làm nóng nghị trường. Theo Báo cáo tổng kết, chỉ khoảng 9% DNNVV phản hồi đã tiếp cận và thụ hưởng chính sách hỗ trợ.
Từ thực tế này, đại biểu Phan Thị Thùy Linh (Đoàn ĐBQH tỉnh Thanh Hóa) thẳng thắn nhìn nhận thành công của Luật không đo bằng việc chúng ta có bao nhiêu điều khoản hỗ trợ, mà bằng số lượng doanh nghiệp thực sự đứng vững. Đại biểu kiến nghị hoàn thiện cơ chế đặt hàng các tổ chức đại diện doanh nghiệp (trong đó có tổ chức do phụ nữ làm chủ) để làm kênh dẫn, giúp doanh nghiệp tiếp cận chính sách một cách thuận lợi và minh bạch nhất.
Liên quan đến quy định về tiếp cận nguồn vốn (Điều 8), dự thảo Luật đã có bước tiến khi khuyến khích cấp tín dụng dựa trên phương án kinh doanh, dòng tiền, dữ liệu giao dịch và đa dạng hóa tài sản bảo đảm, thay vì lệ thuộc vào tài sản thế chấp truyền thống.
Đánh giá cao hướng đi này, song đại biểu Nguyễn Văn Thân (Đoàn ĐBQH TP.HCM) cho rằng Điều 8 hiện mang nặng tính nguyên tắc. Để chính sách khả thi, đại biểu đề nghị bổ sung quy định giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết, Ngân hàng Nhà nước chủ trì tham mưu cơ chế triển khai, xác định rõ trách nhiệm của các tổ chức tín dụng và tiêu chí đánh giá cụ thể.
Làm sâu sắc hơn vấn đề kỹ thuật của việc cấp tín dụng, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh (Đoàn ĐBQH tỉnh Lâm Đồng) chỉ ra rằng để mở rộng phương thức cấp vốn thông qua tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ hay các khoản phải thu, cần phải có khuôn khổ pháp lý đồng bộ về định giá, đăng ký và xử lý tài sản. Cùng với đó, bắt buộc phải có cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu để ngân hàng có cơ sở đánh giá rủi ro mà không vi phạm các nguyên tắc an toàn tín dụng.
Đề cập đến vấn đề ổn định khi có sự thay đổi về tổ chức, đại biểu Trần Đức Thuận (Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An) lưu ý quá trình rà soát, sáp nhập hay giải thể Quỹ Phát triển DNNVV và các quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương cần xác định rõ trách nhiệm kế thừa cam kết. Cần làm rõ nguyên tắc chuyển tiếp đối với các hợp đồng cho vay, bảo lãnh đang giải quyết để tránh gây gián đoạn quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp.
Được định vị là cửa ngõ hàng không quốc tế mang tính biểu tượng mới của Hà Nội và miền Bắc Việt Nam, Cảng hàng không quốc tế Gia Bình (GBIA) mang khát vọng vượt ra ngoài một sân bay truyền thống: Tiên phong phát triển mô hình Trung tâm Kinh tế Hàng không thế hệ mới 2.0, kiến tạo trải nghiệm đẳng cấp quốc tế và mở ra những cơ hội kết nối toàn cầu.
VIFC-HCMC công bố 10 thành viên đầu tiên với tổng vốn điều lệ đăng ký và cam kết góp 33,63 triệu USD, cùng kế hoạch huy động và đầu tư khoảng 2,7 tỷ USD đến năm 2027, tập trung vào các lĩnh vực hạ tầng, giáo dục, năng lượng, logistics và công nghệ tài chính.
Ngày 27/10, tại Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài (Hà Nội), Vietravel Airlines chính thức tiếp nhận thêm tàu bay Airbus A321 mang số hiệu VN-A295, tiếp tục hiện thực hóa kế hoạch mở rộng quy mô đội tàu trong năm 2026.
Bộ Xây dựng trình Quốc hội chủ trương đầu tư hai tuyến cao tốc Bảo Hà - Tân Phong và Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên qua tỉnh Sơn La, với tổng vốn sơ bộ hơn 114.000 tỷ đồng, dự kiến khởi công năm 2027 và cơ bản hoàn thành năm 2030...
Sau hơn 5 tháng triển khai, 16 doanh nghiệp sản xuất tại miền Bắc ghi nhận những cải thiện về năng suất, quy trình quản lý và ứng dụng dữ liệu thông qua hai chương trình tư vấn nhà máy thông minh và khuôn mẫu thông minh...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.