Nâng cao năng lực thực hiện cam kết khí hậu, kiểm kê khí nhà kính, giảm phát thải
NNhĩ Anh
Chọn cỡ chữ
Cùng với hỗ trợ xây dựng các hướng dẫn và công cụ kỹ thuật phục vụ kiểm kê khí nhà kính, đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) giảm phát thải; dự án CBIT đã phát triển phần mềm theo dõi thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC); số hóa hệ thống báo cáo kiểm kê khí nhà chính cho các ngành, thí điểm kiểm kê khí nhà kính tại tỉnh Quảng Ninh; và xây dựng các công cụ theo dõi tài chính khí hậu...
Toàn cảnh hội thảo dự án “nâng cao năng lực quản lý dữ liệu và thông tin báo cáo phù hợp với yêu cầu khung minh bạch tăng cường của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (CBIT). Ảnh: Nhĩ Anh
Ngày 21/10/2026, Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi
trường) phối hợp với UNDP tổ chức hội thảo tổng kết dự án “Nâng cao năng lực quản
lý dữ liệu và thông tin báo cáo phù hợp với yêu cầu khung minh bạch tăng cường
của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu (CBIT)
Dự án do Quỹ Môi trường Toàn cầu (GEF) tài trợ thông qua
UNDP với tổng vốn viện trợ không hoàn lại gần 2 triệu USD, triển khai từ tháng
4/2022 đến tháng 10/2026.
CÔNG CỤ KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH, THEO DÕI PHÁT THẢI VÀ MINH BẠCH TÀI
CHÍNH KHÍ HẬU
Sau hơn 4 năm thực hiện, dự án đã hoàn thành nhiều sản phẩm
và công cụ quan trọng nhằm hỗ trợ Việt Nam thực hiện Khung minh bạch tăng cường
(ETF) theo Điều 13 của Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu.
Ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông
nghiệp và Môi trường, cho rằng những kết quả đạt được của dự án đến nay không chỉ
đơn thuần là việc nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực cho các bên liên
quan, mà đã trở thành những công cụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho việc thực
thi triển khai Kết luận số 75-KL/TƯ ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương
và các Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP của Chính phủ.
Cụ thể, về tăng cường chính sách và năng lực kỹ thuật kiểm kê khí nhà kính và MRV giảm nhẹ phát thải, dự án đã xây dựng thành công các sổ tay, hướng dẫn
kỹ thuật MRV cho các lĩnh vực quan trọng, trực tiếp giải bài toán kỹ thuật cho
triển khai thực hiện Nghị định số 06/2022/NĐ-CP và Nghị định số 119/2025/NĐ-CP.
“Đây là thước đo chuẩn mực để các cơ sở phát thải lớn tự
tính toán, báo cáo lượng phát thải của mình”, ông Hiếu khẳng định.
Ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu
Những kết quả đạt được của dự án đến nay không chỉ đơn thuần là việc nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực cho các bên liên quan, mà đã trở thành những công cụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ cho việc thực thi triển khai Kết luận số 75-KL/TƯ ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương và các Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP của Chính phủ.
Những kết quả này cũng tạo nguồn dữ liệu đầu vào rất quan trọng giúp các Bộ, ngành và địa phương tiếp tục hoàn thiện khung chính sách quản lý nhà nước các cấp về biến đổi khí hậu trong thời gian tới.
Quan trọng hơn, dự án đã hỗ trợ thiết kế nền tảng phần mềm
theo dõi thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC), từng bước số hóa
quy trình báo cáo. Hệ thống dữ liệu minh bạch này là cơ sở nền tảng để cơ quan
nhà nước có thể phân bổ, kiểm soát hạn ngạch phát thải một cách công bằng,
chính xác theo đúng quy định pháp luật; đồng thời chuẩn bị sẵn sàng cho Báo cáo
Minh bạch 2 năm một lần (BTR1) đệ trình quốc tế.
Về theo dõi và giám sát nguồn lực tài chính, dự án đã xây dựng
được Bộ biểu mẫu và Sổ tay hướng dẫn theo dõi đầu tư công cho biến đổi khí hậu
(có lồng ghép yếu tố giới) và thí điểm thành công cho ngành nông nghiệp. Việc
minh bạch hóa dòng tài chính, làm rõ các dòng tài chính đầu tư và hiệu quả giảm
phát thải chính là yếu tố quan trọng để tạo dựng niềm tin, thu hút mạnh mẽ các
nguồn vốn ODA mới và kích hoạt dòng tài chính xanh từ khu vực tư nhân phục vụ
cho mục tiêu chuyển đổi xanh nền kinh tế. Điều này góp phần quan trọng trong
triển khai thực hiện Kết luận 75 trong điều kiện thực tế, góp phần chuyển đổi
xanh toàn diện.
Ngoài ra, dự án cũng đã tạo ra một mạng lưới kết nối chuyên
gia sâu rộng và trực tiếp đào tạo đội ngũ giảng viên.
“Những kết quả đạt được của dự án tạo nguồn dữ liệu đầu vào rất
quan trọng giúp các Bộ, ngành và địa phương tiếp tục hoàn thiện khung chính
sách quản lý nhà nước các cấp về biến đổi khí hậu trong thời gian tới,” ông Hiếu
nhấn mạnh.
Bà Chu Thị Thanh Hương, Phó Trưởng phòng Quản lý phát thải và Bảo vệ tầng ô-dôn, Cục Biến đổi khí hậu chia sẻ những kết quả chính từ dự án. Ảnh: Nhĩ Anh
Thông tin cụ thể những kết quả này, bà Chu Thị Thanh Hương, Phó
Trưởng phòng Quản lý phát thải và Bảo vệ tầng ô-dôn, Cục Biến đổi khí hậu, cho
biết sau hơn 4 năm triển khai, dự án CBIT đã đạt nhiều kết quả trong kiểm kê
khí nhà kính, quản lý dữ liệu phát thải, theo dõi tài chính khí hậu và nâng cao
năng lực chuyên môn.
Trong đó, nổi bật là việc xây dựng 4 quy trình kiểm kê khí
nhà kính và đo đạc, báo cáo, thẩm định (MRV), góp phần chuẩn hóa phương pháp
thu thập, tính toán và báo cáo dữ liệu phát thải. Đồng thời, dự án đã xây dựng
các hướng dẫn kỹ thuật cho lĩnh vực xây dựng, nông nghiệp, thủy sản và các nguồn
phát thải lớn, tạo cơ sở hoàn thiện hệ thống kiểm kê khí nhà kính quốc gia.
Dự án đã xây dựng dự thảo công cụ, biểu mẫu kiểm kê khí nhà
kính đối với các nguồn phát thải lớn thuộc 4 lĩnh vực: năng lượng; các quá
trình công nghiệp và sử dụng sản phẩm (IPPU); nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng
đất khác (AFOLU); chất thải. Dự án cũng kiến nghị bổ sung 271 chỉ tiêu thống kê
phục vụ kiểm kê khí nhà kính, nhằm hoàn thiện dữ liệu đầu vào, nâng cao chất lượng
tính toán và báo cáo phát thải.
Trong lĩnh vực chuyển đổi số, dự án phát triển phần mềm theo
dõi thực hiện NDC, cùng các biểu mẫu báo cáo điện tử, tạo nền tảng chuyển từ tổng
hợp thủ công sang quản lý dữ liệu có hệ thống, phục vụ theo dõi tiến độ giảm
phát thải và thực hiện nghĩa vụ báo cáo quốc tế. Bên cạnh đó, dự án hỗ trợ thí
điểm kiểm kê khí nhà kính tại Quảng Ninh, xây dựng báo cáo kiểm kê và đề xuất
các biện pháp giảm nhẹ phát thải năm 2025.
Đối với tài chính khí hậu, dự án đã xây dựng sổ tay, biểu mẫu
hướng dẫn theo dõi đầu tư công cho biến đổi khí hậu, có lồng ghép yếu tố giới
và thí điểm trong lĩnh vực nông nghiệp. Qua đó, bước đầu hình thành phương pháp
xác định, phân loại và tổng hợp các dòng vốn, nâng cao tính minh bạch trong quản
lý nguồn lực phục vụ chuyển đổi xanh…
CỦNG CỐ HỆ THỐNG MINH BẠCH KHÍ HẬU CHO VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN MỚI
Phát biểu tại hội thảo, ông Vũ Thái Trường, Trợ lý Đại diện
Thường trú, Trưởng phòng Biến đổi khí hậu, Năng lượng và Môi trường, Chương
trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, đánh giá “những năm gần đây,
Việt Nam đã có những bước tiến rất đáng ghi nhận trong thực hiện các cam kết
khí hậu quốc tế. Cùng với hướng tới mục tiêu đạt phát thải ròng bằng “0” vào
năm 2050, việc xây dựng chính sách, huy động nguồn lực và đánh giá hiệu quả các
hành động khí hậu ngày càng cần dựa trên dữ liệu đáng tin cậy, có thể kiểm chứng
và quản lý một cách minh bạch.
Trong bối cảnh đó, “việc thực hiện Khung Minh bạch tăng cường
(ETF) không chỉ đặt ra các yêu cầu báo cáo quốc tế theo Thỏa thuận Paris mà quan
trọng hơn, đây là nền tảng để theo dõi việc thực hiện Đóng góp do quốc gia tự
quyết định (NDC), đánh giá hiệu quả các chính sách khí hậu, hỗ trợ huy động tài
chính khí hậu và củng cố niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với các nỗ lực của
Việt Nam,” ông Trường nói.
Tuy nhiên, việc thực hiện ETF cũng đặt ra những yêu cầu kỹ thuật
phức tạp. Từ kiểm kê khí nhà kính, theo dõi việc thực hiện NDC, báo cáo thích ứng
cho đến tài chính khí hậu,… đều đòi hỏi hệ thống dữ liệu đáng tin cậy, năng lực
thể chế và cơ chế phối hợp ngày càng chặt chẽ giữa các cơ quan liên quan.
Ông Vũ Thái Trường
Thành công lâu dài của CBIT sẽ được đo lường không chỉ bằng các sản phẩm đã hoàn thành mà còn bằng mức độ các sản phẩm đó được áp dụng vào thực tế công tác kiểm kê khí nhà kính, báo cáo triển khai NDC, chuẩn bị BTR và thực hiện các nghĩa vụ minh bạch của quốc gia.
Chính vì vậy, ông Trường cho rằng: “CBIT đã góp phần xây dựng
những nền tảng ban đầu quan trọng về phương pháp luận, công cụ, hệ thống và
năng lực kỹ thuật, tạo cơ sở để Việt Nam tiếp tục hoàn thiện hệ thống minh bạch
khí hậu quốc gia trong thời gian tới”.
Nhìn nhận về những kết quả của CBIT, ông Trường nhấn mạnh bốn
kết quả có ý nghĩa nền tảng đối với việc thực hiện Khung Minh bạch tăng cường tại
Việt Nam.
Thứ nhất, dự án đã góp phần củng cố nền tảng thể chế và kỹ
thuật cho hệ thống minh bạch khí hậu quốc gia.
Thứ hai, dự án đã thúc đẩy quá trình số hóa và hiện đại hóa
hệ thống dữ liệu khí hậu. Các công cụ báo cáo đã được số hóa, hệ thống theo dõi
nguồn phát thải lớn, phần mềm theo dõi thực hiện NDC và các mô hình thí điểm đã
tạo tiền đề cho việc chuyển đổi từ phương thức quản lý dữ liệu thủ công sang
các hệ thống số hóa minh bạch và hiệu quả hơn.
Thứ ba, dự án đã mở rộng phạm vi minh bạch sang lĩnh vực tài
chính khí hậu. Các nghiên cứu, hướng dẫn và hoạt động thí điểm đã góp phần đặt
nền tảng cho việc theo dõi và báo cáo các dòng tài chính khí hậu trong tương
lai- một nội dung ngày càng quan trọng khi Việt Nam cần huy động nguồn lực lớn
để thực hiện các cam kết khí hậu.
Thứ tư, dự án đã hỗ trợ mạnh mẽ cho các hoạt động liên quan
đến tăng cường năng lực và thúc đẩy tính bao trùm.
Với những kết quả đạt được, ông Trường nhấn mạnh đây là thời
điểm để chuyển từ giai đoạn xây dựng nền tảng sang vận hành, duy trì và mở rộng
và phát huy hiệu quả lâu dài.
Nêu những ưu tiên trong giai đoạn tiếp theo, ông Trường cho
rằng trước hết, cần bảo đảm các phương pháp luận, hướng dẫn kỹ thuật, hệ thống
và công cụ được phát triển trong khuôn khổ CBIT được tiếp nhận chính thức, lồng
ghép vào chức năng nhiệm vụ của các cơ quan liên quan và được sử dụng thường
xuyên.
Bên cạnh đó cần tiếp tục đầu tư cho năng lực, đào tạo, tập
huấn liên tục và duy trì các nền tảng tri thức được xây dựng từ dự án. “Thành
công của một hệ thống minh bạch không chỉ phụ thuộc vào công nghệ mà còn phụ
thuộc vào con người, kiến thức chuyên môn và khả năng phối hợp hiệu quả giữa
các bên liên quan,”ông Trường nói.
Tại hội thảo, các chuyên gia đã chia sẻ cụ thể các yêu cầu của khung minh bạch tăng cường kiểm kê khí nhà kính và MRV; giới thiệu phần mềm theo dõi thực hiện giảm phát thải khí nhà kính; báo cáo kiểm kê các nguồn phát thải lớn, số hóa biểu mẫu và công cụ điện tử; giới thiệu các hướng dẫn quy trình kiểm kê khí nhà kính trong lĩnh vực trồng trọt, xi măng...
Tập đoàn dầu khí quốc gia Malaysia cam kết hợp tác với Việt Nam trong cung ứng LNG dài hạn, đồng thời mở rộng hợp tác thăm dò và khai thác dầu khí, phát triển năng lượng tái tạo, góp phần bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định với chi phí hợp lý...
Dự án lưu trữ năng lượng bằng pin lithium-ion tại một khu chung cư ở New York (Mỹ) được kỳ vọng chứng minh khả năng vận hành an toàn của các hệ thống pin dung lượng lớn trong khu dân cư, mở ra hướng giảm chi phí điện và tăng độ tin cậy của lưới điện…
EUDR đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt về tính hợp pháp, truy xuất nguồn gốc địa lý đến từng lô đất và bằng chứng chứng minh sản phẩm không liên quan đến mất rừng, suy thoái rừng sau ngày 31/12/2020. Bản đồ ranh giới rừng năm 2020 phiên bản 1.0 được kỳ vọng hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đối chiếu dữ liệu, hoàn thiện hồ sơ phục vụ xuất khẩu...
Biến đổi khí hậu đang đe dọa nguồn nước ngọt tại Longyearbyen, thị trấn thuộc quần đảo Svalbard của Na Uy. Băng vĩnh cửu tan chảy khiến kim loại nặng từ các lớp đá nền ngấm vào hồ cung cấp nước sinh hoạt. Vụ việc cũng làm dấy lên cảnh báo về những rủi ro tương tự đối với các cộng đồng khác ở Bắc Cực…
Nhà ở xã hội và nhà ở cho thuê trong thời gian qua được ban hành nhiều cơ chế, chính sách thông thoáng, tạo điều kiện thu hút các nguồn lực tham gia đầu tư. Quỹ đất đối với nhà ở cho thuê sẽ được bố trí tại các khu vực phường thuộc đô thị loại đặc biệt, loại 1, loại 2.
Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...
Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...