Kiểm kê khí nhà kính: “Bắt bệnh” cho doanh nghiệp nhằm giảm phát thải
ĐĐỗ Phong
Chọn cỡ chữ
Từ ngày 25/9/2026, Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg về Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật) có hiệu lực. Theo đó, hơn 2.400 cơ sở phát thải khí nhà kính trong 6 lĩnh vực sản xuất sẽ phải thực hiện kiểm kê phát thải khí nhà kính. Việc kiểm kê khí nhà kính được ví như “bắt bệnh” để từ đó các doanh nghiệp phát hiện ra những khâu phát thải nhiều nhất hoặc những khâu chưa hiệu quả để có giải pháp khắc phục, giảm phát thải một cách phù hợp, hiệu quả, sản xuất bền vững...
Kiểm kê khí nhà kính không chỉ là nghĩa vụ tuân thủ đơn thuần với các doanh nghiệp, mà đã trở thành nền tảng cạnh tranh trong bối cảnh yêu cầu tiêu chuẩn xanh, giảm phát thải, ESG… của các thị trường, đối tác quốc tế ngày càng khắt khe. Ảnh: Phúc Bình
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, TS. Lương Quang Huy, Trưởng phòng Quản
lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ozone, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông
nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh rằng kiểm kê khí nhà kính không chỉ là nghĩa vụ
tuân thủ đơn thuần với các doanh nghiệp, mà đã trở thành nền tảng cạnh tranh
trong bối cảnh yêu cầu tiêu chuẩn xanh, giảm phát thải, ESG… của các thị trường,
đối tác quốc tế ngày càng khắt khe.
Thưa ông, so với các quy định về kiểm kê khí nhà kính trước
đây, Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg về Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà
kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật), có hiệu lực từ ngày
25/9/2026, có những điểm mới nổi bật nào?
Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg về Danh mục lĩnh vực, cơ sở
phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật) có một số
điểm mới nổi bật. Theo danh mục cập nhật, số lượng cơ sở phải kiểm kê tăng lên
2.441, cao hơn 275 cơ sở so với danh mục của Quyết định 13/20242 (2.166 cơ sở).
Việc bổ sung hàng trăm cơ sở phản ánh nỗ lực rà soát dữ liệu từ các địa phương
và mở rộng phạm vi quản lý phát thải theo cam kết Net Zero của Việt Nam.
Trước hết, các tiêu chí các cơ sở thuộc các lĩnh vực phải thực
hiện kiểm kê khí nhà kính vẫn áp dụng theo quy định tại Nghị định số 06/2022/NĐ-CP.
Tuy nhiên, về mặt cơ cấu giữa các ngành có sự thay đổi, trong đó công thương vẫn
là ngành có số lượng lớn nhất với 1.916 cơ sở, chiếm tỷ lệ gần 80% tổng số cơ sở
trong danh mục.
Trong đó, lĩnh vực dệt may, da giày và xơ sợi chiếm tỷ lệ
22,69%; ngành luyện kim, cơ khí và chế tạo kim loại chiếm 16,12%, ngành sản xuất
sản phẩm nhựa, chất dẻo chiếm 15,08%; ngành sản xuất giấy, sản phẩm từ giấy chiếm
5,79% và ngành sản xuất, phân phối điện, năng lượng chiếm 5,37%...
TS. Lương Quang Huy
Kiểm kê khí nhà kính không chỉ là nghĩa vụ tuân thủ, mà đã trở thành nền tảng cạnh tranh trong bối cảnh các yêu cầu tiêu chuẩn xanh ngày càng được các thị trường chú trọng như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU, các yêu cầu xanh từ khách hàng quốc tế. Vì vậy, doanh nghiệp hành động sớm sẽ chuyển được sức ép tuân thủ thành lợi thế trên thị trường.
Trong ngành xây dựng, lĩnh vực này gồm 411 cơ sở, tập trung
chủ yếu vào các đơn vị sản xuất vật liệu xây dựng (chiếm tỷ trọng lớn nhất với
39,58%), sản xuất xi măng (22,69%), sản xuất gạch (8,71%), tòa nhà thương mại
(6,60%)… Còn lĩnh vực giao thông vận tải gồm 53 cơ sở, chiếm 2,20% tổng số cơ sở
trong danh mục, giảm 22 cơ sở so với danh mục tại Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg
(75 cơ sở).
Ngành nông nghiệp và môi trường có 61 cơ sở, tập trung vào
nhóm xử lý chất thải tổng hợp (chiếm 64,52%), xử lý chất thải rắn sinh hoạt
(6,45%), xử lý và tiêu hủy rác thải không độc hại (4,83%)…
Việc thực hiện kiểm kê khí nhà kính giữa các cơ sở nằm trong
danh mục và các cơ sở được phân bổ hạn ngạch có những điểm khác biệt nào lớn mà
các doanh nghiệp cần chú ý không, thưa ông?
Kiểm kê khí nhà kính giữa hai đối tượng cơ sở này có sự khác
nhau rất rõ theo lộ trình quản lý phát thải. Trong kiểm kê khí nhà kính có 3 phạm
vi mức độ gồm: Phạm vi 1 (phát thải trực tiếp từ tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch);
Phạm vi 2 (phát thải gián tiếp như tiêu thụ điện, tiêu thụ hơi) và Phạm vi 3
(phát thải trong toàn bộ vòng đời sản phẩm).
Hiện nay, yêu cầu báo cáo kiểm kê khí nhà kính với các cơ sở
thuộc danh mục tại Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg bao gồm Phạm vi 1 và Phạm vi 2.
Với các cơ sở được phân bổ hạn ngạch (110 cơ sở), trong việc
thực hiện và báo cáo kết quả kiểm kê cần phân tách rõ phát thải trực tiếp (Phạm
vi 1) cho các công đoạn sản xuất ra các sản phẩm thuộc đối tượng được thí điểm
phân bổ hạn ngạch gồm điện từ nhiệt điện, thép thô, clinker. Đây là nguồn phát
thải chính của các cơ sở này. Tổng phát thải từ các nguồn này chính là lượng hạn
ngạch mà cơ sở được phân bổ hạn ngạch phải “nộp trả”, cụ thể cho giai đoạn thí
điểm phân bổ đầu tiên năm 2025-2026 là 31/12/2027.
Phát thải trực tiếp từ các nguồn phụ khác ví dụ sử dụng dầu
DO cho máy phát dự phòng, bơm cứu hỏa… rò rỉ môi chất lạnh, xử lý nước thải…
phát thải gián tiếp từ tiêu thụ điện năng, mua hơi… sẽ được tách riêng khỏi nguồn
phát thải cho công đoạn được phân bổ hạn ngạch. Đây là sự khác biệt lớn nhất về
yêu cầu kiểm kê khí nhà kính cho 110 cơ sở được thí điểm phân bổ hạn ngạch giai
đoạn 2025- 2026 so với các cơ sở chưa được thí điểm phân bổ hạn ngạch.
Với số lượng các cơ sở tăng lên, nhất là những cơ sở lần đầu
nằm trong danh mục sẽ gặp không ít khó khăn thách thức trong thực hiện kiểm kê
khí nhà kính. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ có những hình thức nào để hỗ trợ
các doanh nghiệp nằm trong danh mục thực hiện, tuân thủ đầy đủ và hiệu quả yêu
cầu kiểm kê khí nhà kính, thưa ông?
Đây là lần thứ ba Chính phủ ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở
phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Thực tế triển khai
các quy định trong thời gian qua đã ghi nhận sự chuyển biến rõ nét về nhận thức
của các cơ sở, doanh nghiệp trong thực hiện kiểm kê khí nhà kính.
Qua rà soát, đánh giá kết quả thực hiện Quyết định số
13/2024/QĐ-TTg, đại đa số các cơ sở thuộc danh mục 2.166 cơ sở đều đã thực hiện
kiểm kê khí nhà kính, trừ một số trường hợp giải thể, sáp nhập. Như vậy, đến
nay chúng ta đã có nền tảng về nhận thức và kỹ thuật trong thực hiện kiểm kê
khí nhà kính của doanh nghiệp.
Khó khăn về mặt nhân lực thực hiện kiểm kê khí nhà kính chủ
yếu nằm ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa không có ban kỹ thuật riêng. Về mặt chi
phí tuân thủ, trong giai đoạn đầu triển khai (2023-2024), các doanh nghiệp lúng
túng tìm đơn vị tư vấn làm báo cáo kiểm kê khí nhà kính để tuân thủ theo quy định.
Trong thời gian tới đây, khi hệ thống báo cáo khí nhà kính trực tuyến ra đời có thể áp dụng từ năm 2027 sẽ tạo thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ cho các cơ sở doanh nghiệp. Ảnh minh họa: Lighthouse
Tuy nhiên, việc thực thi kiểm kê khí nhà kính tới đây sẽ đơn
giản, thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp cả về mặt nhân lực, phương pháp và chi
phí triển khai nhờ Hệ thống báo cáo khí nhà kính trực tuyến đang được Bộ Nông
nghiệp và Môi trường khẩn trương xây dựng hoàn thiện, công bố trong năm nay.
Hiện nay, các văn bản quy định, hướng dẫn phương pháp thực
hiện kiểm kê khí nhà kính đã tương đối đầy đủ, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp
triển khai thực hiện. Trong thời gian tới đây, khi hệ thống báo cáo khí nhà
kính trực tuyến ra đời có thể áp dụng từ năm 2027, các cơ sở doanh nghiệp nằm
trong danh mục sẽ được cấp tài khoản theo VNeID.
Các doanh nghiệp sẽ tự nhập
các thông tin số liệu vào hệ thống và hệ thống sẽ tự động tính toán, lập báo
cáo. Điều này cũng sẽ giúp giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho các cơ sở, đồng thời
giải bài toán nhân lực cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ.
Không những thế, quá trình nộp báo cáo cũng được thực hiện
trực tuyến trên hệ thống giúp tiết kiệm thời gian, đồng thời cơ quan quản lý có
thể theo dõi, giám sát thường xuyên, đồng nhất, tránh mất mát hoặc thay đổi số
liệu. Trên hệ thống này, các cơ quan quản lý nhà nước từ các bộ đến các địa
phương có thể phản hồi thông tin về báo cáo tới các doanh nghiệp.
Theo quy định tại Nghị định số 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ
sung Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, phần lớn các doanh nghiệp này không phải thẩm
định báo cáo kiểm kê khí nhà kính. Theo xu hướng, trong thời gian tới, cơ quan
quản lý sẽ áp dụng phương thức hậu kiểm. Riêng đối với 110 cơ sở được phân bổ hạn
ngạch, sau khi lập báo cáo kiểm kê khí nhà kính cần phải có đơn vị độc lập thẩm
định, phục vụ yêu cầu nộp trả hạn ngạch phát thải khí nhà kính.
Ngay sau khi Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg được ban hành, Bộ
Nông nghiệp và Môi trường đã gửi thông báo đến các địa phương, doanh nghiệp. Một
số địa phương đã triển khai thực hiện thông qua giao việc cho các cơ quan
chuyên môn trực tiếp theo dõi các cơ sở doanh nghiệp thuộc danh mục phải kiểm
kê khí nhà kính trên địa bàn.
Trong quá trình triển khai thực hiện, với các doanh nghiệp
chưa từng kiểm kê khí nhà kính sẽ gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ, lúng túng, nhất
là trong xử lý, chuyển đổi dữ liệu đầu vào cho hệ thống báo cáo trực tuyến.
Để hỗ trợ các doanh nghiệp, trong thời gian qua Cục Biến đổi
khí hậu và các đơn vị liên quan, đầu mối phụ trách vấn đề này ở các bộ, ngành
thường xuyên đào tạo, hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp, trong đó đặc biệt là
vấn đề xử lý số liệu đúng theo yêu cầu.
Từ thực tế triển khai thực hiện kiểm kê khí nhà kính trong
các cơ sở hiện nay, ông có lưu ý, khuyến nghị gì với các doanh nghiệp?
Chúng tôi luôn khuyến cáo các doanh nghiệp nên có cán bộ
chuyên trách hoặc phòng ban chuyên trách về kiểm kê khí nhà kính để lưu trữ số
liệu. Điều này là rất quan trọng và cần thiết, bởi nếu trong tương lai doanh
nghiệp (nhất là doanh nghiệp lớn) được phân bổ hạn ngạch, hoặc tham gia thị trường
carbon, thì kết quả kiểm kê khí nhà kính sẽ là nền tảng đầu tiên.
Vì vậy, tôi cho rằng dữ liệu và báo cáo càng chính xác sẽ
càng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc chuẩn bị tham gia thị trường
carbon (kể cả thị trường carbon tuân thủ và thị trường carbon tự nguyện, thị
trường trong nước cũng như quốc tế).
Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng nên có hệ thống lưu trữ và xử
lý số liệu riêng biệt về phát thải khí nhà kính của đơn vị mình.
Thưa ông, việc kiểm kê khí nhà kính được coi như “bắt bệnh”
để từ đó các doanh nghiệp có các giải pháp giảm phát thải một cách phù hợp và
hiệu quả. Theo ông, đâu là điểm mấu chốt để những kết quả kiểm kê chuyển thành
hành động, quyết định của doanh nghiệp trong phát triển sản xuất bền vững?
Theo tôi, điểm mấu chốt ở chỗ qua thực hiện kiểm kê, doanh
nghiệp sẽ phát hiện ra những khâu phát thải khí nhà kính nhiều nhất hoặc những
khâu chưa hiệu quả để có giải pháp khắc phục, hướng tới mục tiêu sản xuất bền vững.
Ví dụ, với một doanh nghiệp có nguồn phát thải trực tiếp từ đốt nhiên liệu hóa
thạch có thể thay thế bằng những nhiên liệu khác mang lại hiệu quả hơn cả về mặt
kinh tế, môi trường, giảm phát thải.
Kết quả kiểm kê khí nhà kính sẽ phản ánh đầy đủ tất cả các
nguồn phát thải cả trực tiếp và gián tiếp của cơ sở, doanh nghiệp. Các doanh
nghiệp nhìn vào kết quả kiểm kê khí nhà kính sẽ biết được thực trạng phát thải
của mình và biết cần phải cải thiện ở khâu nào để phát triển sản xuất bền vững.
TS Lương Quang Huy
Các doanh nghiệp nên có cán bộ chuyên trách hoặc phòng ban chuyên trách về kiểm kê khí nhà kính để lưu trữ số liệu. Điều này là rất quan trọng và cần thiết, bởi nếu trong tương lai doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp lớn) được phân bổ hạn ngạch, hoặc tham gia thị trường carbon, thì kết quả kiểm kê khí nhà kính sẽ là nền tảng đầu tiên.
Để giảm phát thải đòi hỏi doanh nghiệp cần đầu tư chi phí
ban đầu nhất định. Tuy nhiên, về mặt trung hạn và dài hạn sẽ mang lại hiệu quả
lớn cho doanh nghiệp, đặc biệt với các doanh nghiệp nằm trong chuỗi cung ứng, hệ
sinh thái của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn có các tiêu chí xanh, ESG… Hiện
nay, các tiêu chuẩn xanh, ESG, giảm phát thải, đang được các đối tác trong và
ngoài nước, nhất là các đối tác quốc tế yêu cầu ngày càng khắt khe hơn với các
doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, hệ sinh thái.
Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, thị trường càng ngày
càng xuất hiện nhiều rào cản thương mại. Điển hình như Cơ chế CBAM của châu Âu
hoặc hiện nay, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia cũng đang xây dựng các cơ chế bảo
hộ, trong đó sử dụng phát thải khí nhà kính là một công cụ để bảo hộ thêm cho
doanh nghiệp trong nước. Nếu phát thải khí nhà kính trên đơn vị sản phẩm của
doanh nghiệp nhập khẩu cao hơn doanh nghiệp ở trong nước, các thị trường này sẽ
yêu cầu doanh nghiệp nhập khẩu phải nộp thuế.
Chính vì vậy, để giải quyết vấn đề này, các doanh nghiệp cần
có hành động để hiện thực hóa chuyển đổi xanh, đáp ứng tiêu chuẩn ESG, giảm
phát thải do các thị trường, khách hàng, đối tác trong chuỗi cung ứng yêu cầu.
Doanh nghiệp phải chứng minh đã có hoạt động, chi phí dành cho giảm phát thải
khí nhà kính ở trong nước trước khi xuất khẩu sản phẩm hàng hóa.
Không chỉ các đơn vị tham gia xuất khẩu, trước xu thế toàn cầu
hóa, sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp đều nằm trong hệ sinh thái, chuỗi
cung ứng lớn từ trong nước tới quốc tế. Do đó, các doanh nghiệp trong hệ sinh
thái, chuỗi cung ứng đều phải chịu sức ép về sản xuất bền vững, giảm phát thải.
Thông qua thực hiện kiểm kê khí nhà kính sẽ là nền tảng để
các doanh nghiệp chứng minh những hành động của mình trong sản xuất bền vững,
giảm phát thải, phát triển xanh với các đối tác, công ty mẹ trong hệ sinh thái,
chuỗi cung ứng. Việc triển khai trong thực tế và theo lộ trình nào phụ thuộc
vào năng lực của từng doanh nghiệp.
Về quản lý nhà nước, hoạt động quản lý kiểm soát phát thải của
doanh nghiệp sẽ dần thắt chặt, trong đó điển hình là việc phân bổ hạn ngạch
phát thải khí nhà kính thí điểm cho 110 cơ sở để từ đó có lộ trình giảm cụ thể.
Trong thời gian tới, số lượng các đơn vị được phân bổ hạn ngạch sẽ dần mở rộng
hơn.
Song song với đó, cơ quan quản lý cũng khuyến khích các
doanh nghiệp chưa nằm trong diện bắt buộc phải thực hiện, nên sớm triển khai hoạt
động kiểm kê khí nhà kính, giảm phát thải. Điều này sẽ có tác động tích cực tới
hình ảnh, thương hiệu và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Kiểm kê khí nhà kính không chỉ là nghĩa vụ tuân thủ, mà đã
trở thành nền tảng cạnh tranh trong bối cảnh các yêu cầu tiêu chuẩn xanh ngày
càng được các thị trường chú trọng như CBAM, các yêu cầu xanh từ khách hàng quốc
tế. Doanh nghiệp hành động sớm sẽ chuyển được sức ép tuân thủ thành lợi thế
trên thị trường.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 40-2026 phát hành ngày 05/10/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tạiđây:
Sử dụng hệ thống pin tích hợp trong cánh, máy bay E9X của công ty khởi nghiệp Hà Lan Elysian Aircraft được thiết kế để chở 90 hành khách, với tầm bay ban đầu 800 km và mục tiêu đạt 1.000 km. Dự kiến đi vào khai thác năm 2034, mẫu máy bay này được kỳ vọng góp phần giảm đáng kể lượng phát thải của ngành hàng không…
Góp ý kiến vào dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật; đồng thời làm rõ một số nội dung để luật vừa tạo động lực phát triển kinh tế biển, vừa bảo vệ môi trường, chủ quyền và lợi ích quốc gia, hướng mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh...
Theo lộ trình, Việt Nam thực hiện mục tiêu cắt giảm 67,5% lượng tiêu thụ cơ sở HCFC trong giai đoạn 2025-2029, tiến tới giảm 97,5% từ năm 2030 và loại trừ hoàn toàn vào năm 2040. Từ thực tế lượng thiết bị đang sử dụng HCFC-22 hiện nay với nhu cầu môi chất lạnh cho sửa chữa, bảo dưỡng vẫn còn lớn trong khi nguồn mới bị hạn chế đặt ra bài toán thu hồi, tái chế, tái sử dụng, quản lý môi chất theo vòng đời. Tính toán cho thấy Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 1.000 tấn HCFC-22 vào năm 2030…
Nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt trong việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ việc cắt thủ tục nhưng không cắt trách nhiệm; nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm; phân cấp nhưng không phân tán; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Nếu giảm tiền kiểm nhưng năng lực hậu kiểm không đáp ứng yêu cầu thì sẽ khó bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường...
Việt Nam đang hoàn thiện khung pháp lý và đẩy mạnh các giải pháp quản lý môi chất lạnh theo Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, hướng tới thu hồi, tái chế xuyên suốt vòng đời thiết bị, góp phần bảo vệ tầng ozone và giảm phát thải khí nhà kính...
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...
Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...