Kiểm kê khí nhà kính: “Bắt bệnh” cho doanh nghiệp nhằm giảm phát thải

Từ ngày 25/9/2026, Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg về Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật) có hiệu lực. Theo đó, hơn 2.400 cơ sở phát thải khí nhà kính trong 6 lĩnh vực sản xuất sẽ phải thực hiện kiểm kê phát thải khí nhà kính. Việc kiểm kê khí nhà kính được ví như “bắt bệnh” để từ đó các doanh nghiệp phát hiện ra những khâu phát thải nhiều nhất hoặc những khâu chưa hiệu quả để có giải pháp khắc phục, giảm phát thải một cách phù hợp, hiệu quả, sản xuất bền vững...

Kiểm kê khí nhà kính không chỉ là nghĩa vụ tuân thủ đơn thuần với các doanh nghiệp, mà đã trở thành nền tảng cạnh tranh trong bối cảnh yêu cầu tiêu chuẩn xanh, giảm phát thải, ESG… của các thị trường, đối tác quốc tế ngày càng khắt khe. Ảnh: Phúc Bình
Kiểm kê khí nhà kính không chỉ là nghĩa vụ tuân thủ đơn thuần với các doanh nghiệp, mà đã trở thành nền tảng cạnh tranh trong bối cảnh yêu cầu tiêu chuẩn xanh, giảm phát thải, ESG… của các thị trường, đối tác quốc tế ngày càng khắt khe. Ảnh: Phúc Bình

Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, TS. Lương Quang Huy, Trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ozone, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, nhấn mạnh rằng kiểm kê khí nhà kính không chỉ là nghĩa vụ tuân thủ đơn thuần với các doanh nghiệp, mà đã trở thành nền tảng cạnh tranh trong bối cảnh yêu cầu tiêu chuẩn xanh, giảm phát thải, ESG… của các thị trường, đối tác quốc tế ngày càng khắt khe.

Thưa ông, so với các quy định về kiểm kê khí nhà kính trước đây, Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg về Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật), có hiệu lực từ ngày 25/9/2026, có những điểm mới nổi bật nào?

Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg về Danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật) có một số điểm mới nổi bật. Theo danh mục cập nhật, số lượng cơ sở phải kiểm kê tăng lên 2.441, cao hơn 275 cơ sở so với danh mục của Quyết định 13/20242 (2.166 cơ sở). Việc bổ sung hàng trăm cơ sở phản ánh nỗ lực rà soát dữ liệu từ các địa phương và mở rộng phạm vi quản lý phát thải theo cam kết Net  Zero của Việt Nam.

Trước hết, các tiêu chí các cơ sở thuộc các lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính vẫn áp dụng theo quy định tại Nghị định số 06/2022/NĐ-CP. Tuy nhiên, về mặt cơ cấu giữa các ngành có sự thay đổi, trong đó công thương vẫn là ngành có số lượng lớn nhất với 1.916 cơ sở, chiếm tỷ lệ gần 80% tổng số cơ sở trong danh mục.

Trong đó, lĩnh vực dệt may, da giày và xơ sợi chiếm tỷ lệ 22,69%; ngành luyện kim, cơ khí và chế tạo kim loại chiếm 16,12%, ngành sản xuất sản phẩm nhựa, chất dẻo chiếm 15,08%; ngành sản xuất giấy, sản phẩm từ giấy chiếm 5,79% và ngành sản xuất, phân phối điện, năng lượng chiếm 5,37%...

TS. Lương Quang Huy
TS. Lương Quang Huy

Kiểm kê khí nhà kính không chỉ là nghĩa vụ tuân thủ, mà đã trở thành nền tảng cạnh tranh trong bối cảnh các yêu cầu tiêu chuẩn xanh ngày càng được các thị trường chú trọng như Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU, các yêu cầu xanh từ khách hàng quốc tế. Vì vậy, doanh nghiệp hành động sớm sẽ chuyển được sức ép tuân thủ thành lợi thế trên thị trường.

Trong ngành xây dựng, lĩnh vực này gồm 411 cơ sở, tập trung chủ yếu vào các đơn vị sản xuất vật liệu xây dựng (chiếm tỷ trọng lớn nhất với 39,58%), sản xuất xi măng (22,69%), sản xuất gạch (8,71%), tòa nhà thương mại (6,60%)… Còn lĩnh vực giao thông vận tải gồm 53 cơ sở, chiếm 2,20% tổng số cơ sở trong danh mục, giảm 22 cơ sở so với danh mục tại Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg (75 cơ sở).

Ngành nông nghiệp và môi trường có 61 cơ sở, tập trung vào nhóm xử lý chất thải tổng hợp (chiếm 64,52%), xử lý chất thải rắn sinh hoạt (6,45%), xử lý và tiêu hủy rác thải không độc hại (4,83%)…

Việc thực hiện kiểm kê khí nhà kính giữa các cơ sở nằm trong danh mục và các cơ sở được phân bổ hạn ngạch có những điểm khác biệt nào lớn mà các doanh nghiệp cần chú ý không, thưa ông?

Kiểm kê khí nhà kính giữa hai đối tượng cơ sở này có sự khác nhau rất rõ theo lộ trình quản lý phát thải. Trong kiểm kê khí nhà kính có 3 phạm vi mức độ gồm: Phạm vi 1 (phát thải trực tiếp từ tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch); Phạm vi 2 (phát thải gián tiếp như tiêu thụ điện, tiêu thụ hơi) và Phạm vi 3 (phát thải trong toàn bộ vòng đời sản phẩm).

Hiện nay, yêu cầu báo cáo kiểm kê khí nhà kính với các cơ sở thuộc danh mục tại Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg bao gồm Phạm vi 1 và Phạm vi 2.

Với các cơ sở được phân bổ hạn ngạch (110 cơ sở), trong việc thực hiện và báo cáo kết quả kiểm kê cần phân tách rõ phát thải trực tiếp (Phạm vi 1) cho các công đoạn sản xuất ra các sản phẩm thuộc đối tượng được thí điểm phân bổ hạn ngạch gồm điện từ nhiệt điện, thép thô, clinker. Đây là nguồn phát thải chính của các cơ sở này. Tổng phát thải từ các nguồn này chính là lượng hạn ngạch mà cơ sở được phân bổ hạn ngạch phải “nộp trả”, cụ thể cho giai đoạn thí điểm phân bổ đầu tiên năm 2025-2026 là 31/12/2027.

Phát thải trực tiếp từ các nguồn phụ khác ví dụ sử dụng dầu DO cho máy phát dự phòng, bơm cứu hỏa… rò rỉ môi chất lạnh, xử lý nước thải… phát thải gián tiếp từ tiêu thụ điện năng, mua hơi… sẽ được tách riêng khỏi nguồn phát thải cho công đoạn được phân bổ hạn ngạch. Đây là sự khác biệt lớn nhất về yêu cầu kiểm kê khí nhà kính cho 110 cơ sở được thí điểm phân bổ hạn ngạch giai đoạn 2025- 2026 so với các cơ sở chưa được thí điểm phân bổ hạn ngạch. 

Với số lượng các cơ sở tăng lên, nhất là những cơ sở lần đầu nằm trong danh mục sẽ gặp không ít khó khăn thách thức trong thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ có những hình thức nào để hỗ trợ các doanh nghiệp nằm trong danh mục thực hiện, tuân thủ đầy đủ và hiệu quả yêu cầu kiểm kê khí nhà kính, thưa ông?

Đây là lần thứ ba Chính phủ ban hành danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Thực tế triển khai các quy định trong thời gian qua đã ghi nhận sự chuyển biến rõ nét về nhận thức của các cơ sở, doanh nghiệp trong thực hiện kiểm kê khí nhà kính.

Qua rà soát, đánh giá kết quả thực hiện Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg, đại đa số các cơ sở thuộc danh mục 2.166 cơ sở đều đã thực hiện kiểm kê khí nhà kính, trừ một số trường hợp giải thể, sáp nhập. Như vậy, đến nay chúng ta đã có nền tảng về nhận thức và kỹ thuật trong thực hiện kiểm kê khí nhà kính của doanh nghiệp.

Khó khăn về mặt nhân lực thực hiện kiểm kê khí nhà kính chủ yếu nằm ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa không có ban kỹ thuật riêng. Về mặt chi phí tuân thủ, trong giai đoạn đầu triển khai (2023-2024), các doanh nghiệp lúng túng tìm đơn vị tư vấn làm báo cáo kiểm kê khí nhà kính để tuân thủ theo quy định.

Trong thời gian tới đây, khi hệ thống báo cáo khí nhà kính trực tuyến ra đời có thể áp dụng từ năm 2027 sẽ tạo thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ cho các cơ sở doanh nghiệp. Ảnh minh họa: Lighthouse
Trong thời gian tới đây, khi hệ thống báo cáo khí nhà kính trực tuyến ra đời có thể áp dụng từ năm 2027 sẽ tạo thuận lợi, giảm chi phí tuân thủ cho các cơ sở doanh nghiệp. Ảnh minh họa: Lighthouse

Tuy nhiên, việc thực thi kiểm kê khí nhà kính tới đây sẽ đơn giản, thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp cả về mặt nhân lực, phương pháp và chi phí triển khai nhờ Hệ thống báo cáo khí nhà kính trực tuyến đang được Bộ Nông nghiệp và Môi trường khẩn trương xây dựng hoàn thiện, công bố trong năm nay.

Hiện nay, các văn bản quy định, hướng dẫn phương pháp thực hiện kiểm kê khí nhà kính đã tương đối đầy đủ, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp triển khai thực hiện. Trong thời gian tới đây, khi hệ thống báo cáo khí nhà kính trực tuyến ra đời có thể áp dụng từ năm 2027, các cơ sở doanh nghiệp nằm trong danh mục sẽ được cấp tài khoản theo VNeID.

Các doanh nghiệp sẽ tự nhập các thông tin số liệu vào hệ thống và hệ thống sẽ tự động tính toán, lập báo cáo. Điều này cũng sẽ giúp giảm đáng kể chi phí tuân thủ cho các cơ sở, đồng thời giải bài toán nhân lực cho các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp nhỏ.

Không những thế, quá trình nộp báo cáo cũng được thực hiện trực tuyến trên hệ thống giúp tiết kiệm thời gian, đồng thời cơ quan quản lý có thể theo dõi, giám sát thường xuyên, đồng nhất, tránh mất mát hoặc thay đổi số liệu. Trên hệ thống này, các cơ quan quản lý nhà nước từ các bộ đến các địa phương có thể phản hồi thông tin về báo cáo tới các doanh nghiệp.

Theo quy định tại Nghị định số 119/2025/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định số 06/2022/NĐ-CP, phần lớn các doanh nghiệp này không phải thẩm định báo cáo kiểm kê khí nhà kính. Theo xu hướng, trong thời gian tới, cơ quan quản lý sẽ áp dụng phương thức hậu kiểm. Riêng đối với 110 cơ sở được phân bổ hạn ngạch, sau khi lập báo cáo kiểm kê khí nhà kính cần phải có đơn vị độc lập thẩm định, phục vụ yêu cầu nộp trả hạn ngạch phát thải khí nhà kính.

Ngay sau khi Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg được ban hành, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã gửi thông báo đến các địa phương, doanh nghiệp. Một số địa phương đã triển khai thực hiện thông qua giao việc cho các cơ quan chuyên môn trực tiếp theo dõi các cơ sở doanh nghiệp thuộc danh mục phải kiểm kê khí nhà kính trên địa bàn.

Trong quá trình triển khai thực hiện, với các doanh nghiệp chưa từng kiểm kê khí nhà kính sẽ gặp nhiều khó khăn, bỡ ngỡ, lúng túng, nhất là trong xử lý, chuyển đổi dữ liệu đầu vào cho hệ thống báo cáo trực tuyến.

Để hỗ trợ các doanh nghiệp, trong thời gian qua Cục Biến đổi khí hậu và các đơn vị liên quan, đầu mối phụ trách vấn đề này ở các bộ, ngành thường xuyên đào tạo, hướng dẫn, hỗ trợ các doanh nghiệp, trong đó đặc biệt là vấn đề xử lý số liệu đúng theo yêu cầu.

Từ thực tế triển khai thực hiện kiểm kê khí nhà kính trong các cơ sở hiện nay, ông có lưu ý, khuyến nghị gì với các doanh nghiệp?

Chúng tôi luôn khuyến cáo các doanh nghiệp nên có cán bộ chuyên trách hoặc phòng ban chuyên trách về kiểm kê khí nhà kính để lưu trữ số liệu. Điều này là rất quan trọng và cần thiết, bởi nếu trong tương lai doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp lớn) được phân bổ hạn ngạch, hoặc tham gia thị trường carbon, thì kết quả kiểm kê khí nhà kính sẽ là nền tảng đầu tiên.

Vì vậy, tôi cho rằng dữ liệu và báo cáo càng chính xác sẽ càng tạo thuận lợi cho doanh nghiệp trong việc chuẩn bị tham gia thị trường carbon (kể cả thị trường carbon tuân thủ và thị trường carbon tự nguyện, thị trường trong nước cũng như quốc tế).

Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng nên có hệ thống lưu trữ và xử lý số liệu riêng biệt về phát thải khí nhà kính của đơn vị mình.

Thưa ông, việc kiểm kê khí nhà kính được coi như “bắt bệnh” để từ đó các doanh nghiệp có các giải pháp giảm phát thải một cách phù hợp và hiệu quả. Theo ông, đâu là điểm mấu chốt để những kết quả kiểm kê chuyển thành hành động, quyết định của doanh nghiệp trong phát triển sản xuất bền vững?

Theo tôi, điểm mấu chốt ở chỗ qua thực hiện kiểm kê, doanh nghiệp sẽ phát hiện ra những khâu phát thải khí nhà kính nhiều nhất hoặc những khâu chưa hiệu quả để có giải pháp khắc phục, hướng tới mục tiêu sản xuất bền vững. Ví dụ, với một doanh nghiệp có nguồn phát thải trực tiếp từ đốt nhiên liệu hóa thạch có thể thay thế bằng những nhiên liệu khác mang lại hiệu quả hơn cả về mặt kinh tế, môi trường, giảm phát thải.

Kết quả kiểm kê khí nhà kính sẽ phản ánh đầy đủ tất cả các nguồn phát thải cả trực tiếp và gián tiếp của cơ sở, doanh nghiệp. Các doanh nghiệp nhìn vào kết quả kiểm kê khí nhà kính sẽ biết được thực trạng phát thải của mình và biết cần phải cải thiện ở khâu nào để phát triển sản xuất bền vững.

TS Lương Quang Huy
TS Lương Quang Huy

Các doanh nghiệp nên có cán bộ chuyên trách hoặc phòng ban chuyên trách về kiểm kê khí nhà kính để lưu trữ số liệu. Điều này là rất quan trọng và cần thiết, bởi nếu trong tương lai doanh nghiệp (nhất là doanh nghiệp lớn) được phân bổ hạn ngạch, hoặc tham gia thị trường carbon, thì kết quả kiểm kê khí nhà kính sẽ là nền tảng đầu tiên.

Để giảm phát thải đòi hỏi doanh nghiệp cần đầu tư chi phí ban đầu nhất định. Tuy nhiên, về mặt trung hạn và dài hạn sẽ mang lại hiệu quả lớn cho doanh nghiệp, đặc biệt với các doanh nghiệp nằm trong chuỗi cung ứng, hệ sinh thái của các tập đoàn, doanh nghiệp lớn có các tiêu chí xanh, ESG… Hiện nay, các tiêu chuẩn xanh, ESG, giảm phát thải, đang được các đối tác trong và ngoài nước, nhất là các đối tác quốc tế yêu cầu ngày càng khắt khe hơn với các doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng, hệ sinh thái.

Đối với các doanh nghiệp xuất khẩu, thị trường càng ngày càng xuất hiện nhiều rào cản thương mại. Điển hình như Cơ chế CBAM của châu Âu hoặc hiện nay, Nhật Bản, Trung Quốc, Australia cũng đang xây dựng các cơ chế bảo hộ, trong đó sử dụng phát thải khí nhà kính là một công cụ để bảo hộ thêm cho doanh nghiệp trong nước. Nếu phát thải khí nhà kính trên đơn vị sản phẩm của doanh nghiệp nhập khẩu cao hơn doanh nghiệp ở trong nước, các thị trường này sẽ yêu cầu doanh nghiệp nhập khẩu phải nộp thuế.

Chính vì vậy, để giải quyết vấn đề này, các doanh nghiệp cần có hành động để hiện thực hóa chuyển đổi xanh, đáp ứng tiêu chuẩn ESG, giảm phát thải do các thị trường, khách hàng, đối tác trong chuỗi cung ứng yêu cầu. Doanh nghiệp phải chứng minh đã có hoạt động, chi phí dành cho giảm phát thải khí nhà kính ở trong nước trước khi xuất khẩu sản phẩm hàng hóa.

Không chỉ các đơn vị tham gia xuất khẩu, trước xu thế toàn cầu hóa, sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp đều nằm trong hệ sinh thái, chuỗi cung ứng lớn từ trong nước tới quốc tế. Do đó, các doanh nghiệp trong hệ sinh thái, chuỗi cung ứng đều phải chịu sức ép về sản xuất bền vững, giảm phát thải.

Thông qua thực hiện kiểm kê khí nhà kính sẽ là nền tảng để các doanh nghiệp chứng minh những hành động của mình trong sản xuất bền vững, giảm phát thải, phát triển xanh với các đối tác, công ty mẹ trong hệ sinh thái, chuỗi cung ứng. Việc triển khai trong thực tế và theo lộ trình nào phụ thuộc vào năng lực của từng doanh nghiệp.

Về quản lý nhà nước, hoạt động quản lý kiểm soát phát thải của doanh nghiệp sẽ dần thắt chặt, trong đó điển hình là việc phân bổ hạn ngạch phát thải khí nhà kính thí điểm cho 110 cơ sở để từ đó có lộ trình giảm cụ thể. Trong thời gian tới, số lượng các đơn vị được phân bổ hạn ngạch sẽ dần mở rộng hơn.

Song song với đó, cơ quan quản lý cũng khuyến khích các doanh nghiệp chưa nằm trong diện bắt buộc phải thực hiện, nên sớm triển khai hoạt động kiểm kê khí nhà kính, giảm phát thải. Điều này sẽ có tác động tích cực tới hình ảnh, thương hiệu và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Kiểm kê khí nhà kính không chỉ là nghĩa vụ tuân thủ, mà đã trở thành nền tảng cạnh tranh trong bối cảnh các yêu cầu tiêu chuẩn xanh ngày càng được các thị trường chú trọng như CBAM, các yêu cầu xanh từ khách hàng quốc tế. Doanh nghiệp hành động sớm sẽ chuyển được sức ép tuân thủ thành lợi thế trên thị trường.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 40-2026 phát hành ngày 05/10/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây: 

https://premium.vneconomy.vn/doc-thu-an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-40-2026.html

VnEconomy

Hà Lan: Máy bay điện E9X hướng tới chở 90 hành khách, bay 1.000 km

Sử dụng hệ thống pin tích hợp trong cánh, máy bay E9X của công ty khởi nghiệp Hà Lan Elysian Aircraft được thiết kế để chở 90 hành khách, với tầm bay ban đầu 800 km và mục tiêu đạt 1.000 km. Dự kiến đi vào khai thác năm 2034, mẫu máy bay này được kỳ vọng góp phần giảm đáng kể lượng phát thải của ngành hàng không…

Khơi thông nguồn lực thúc đẩy phát triển kinh tế biển

Góp ý kiến vào dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi), Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo tiếp tục hoàn thiện dự thảo luật; đồng thời làm rõ một số nội dung để luật vừa tạo động lực phát triển kinh tế biển, vừa bảo vệ môi trường, chủ quyền và lợi ích quốc gia, hướng mục tiêu phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh...

Chuyển đổi xanh, giảm phát thải ngành lạnh, quản lý môi chất theo vòng đời

Theo lộ trình, Việt Nam thực hiện mục tiêu cắt giảm 67,5% lượng tiêu thụ cơ sở HCFC trong giai đoạn 2025-2029, tiến tới giảm 97,5% từ năm 2030 và loại trừ hoàn toàn vào năm 2040. Từ thực tế lượng thiết bị đang sử dụng HCFC-22 hiện nay với nhu cầu môi chất lạnh cho sửa chữa, bảo dưỡng vẫn còn lớn trong khi nguồn mới bị hạn chế đặt ra bài toán thu hồi, tái chế, tái sử dụng, quản lý môi chất theo vòng đời. Tính toán cho thấy Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 1.000 tấn HCFC-22 vào năm 2030…

Cắt giảm thủ tục nhưng không cắt giảm trách nhiệm môi trường, nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm

Nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt trong việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ việc cắt thủ tục nhưng không cắt trách nhiệm; nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm; phân cấp nhưng không phân tán; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Nếu giảm tiền kiểm nhưng năng lực hậu kiểm không đáp ứng yêu cầu thì sẽ khó bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường...

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI

Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Việt Nam: Khát vọng quốc gia biển mạnh

Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy