Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 23/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực tài nguyên nước, trong đó bổ sung quy định về nguyên tắc, căn cứ và điều kiện cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước và thăm dò nước dưới đất tại Nghị định số 54/2024/NĐ-CP.
Theo Nghị định mới, việc đăng ký, cấp phép thăm dò, khai thác, sử dụng tài nguyên nước phải đảm bảo đúng thẩm quyền, đúng đối tượng, trình tự thủ tục theo quy định; hài hòa lợi ích của Nhà nước và quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân liên quan; ưu tiên cấp nước cho sinh hoạt; đồng thời bảo vệ tài nguyên nước, không gây suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm nguồn nước.
Việc cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước và thăm dò nước dưới đất phải căn cứ vào quy hoạch tài nguyên nước, quy hoạch ngành, vùng, tỉnh; hiện trạng khai thác, sử dụng nước; kết quả thẩm định hồ sơ của cơ quan có thẩm quyền và nhu cầu khai thác, sử dụng nước của tổ chức, cá nhân đề nghị cấp phép.
Nghị định cũng quy định cụ thể điều kiện cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước và giấy phép thăm dò nước dưới đất. Theo đó, tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước khi hoàn thành việc lấy ý kiến theo quy định của Luật Tài nguyên nước.
Việc khai thác tài nguyên nước phù hợp với nội dung quy định tại căn cứ cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước và giấy phép thăm dò nước dưới đất; khai thác nước dưới đất phù hợp với quy định liên quan đến vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất theo quy định của Luật Tài nguyên nước.
Tổ chức, cá nhân được cấp giấy phép thăm dò nước dưới đất khi có phương án thi công các hạng mục thăm dò nước dưới đất được thể hiện trong nội dung Đề án thăm dò nước dưới đất, đáp ứng yêu cầu về bảo vệ nước dưới đất và phù hợp với quy định liên quan đến vùng cấm, vùng hạn chế khai thác nước dưới đất theo quy định của Luật Tài nguyên nước.
Riêng trường hợp khai thác nước mặt có xây dựng đập, hồ chứa trên sông, ngoài các điều kiện của Luật tài nguyên nước, còn phải có phương án quan trắc khí tượng thủy văn, dự báo nguồn nước, vận hành hồ chứa và quy trình vận hành theo quy định pháp luật.
Nghị định 23/2026/NĐ-CP quy định rõ thời hạn giấy phép: giấy phép khai thác nước mặt có thời hạn tối đa 10 năm, tối thiểu 5 năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn 5 năm.
Giấy phép khai thác nước biển có thời hạn tối đa 15 năm, tối thiểu 10 năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn 10 năm. Giấy phép khai thác nước dưới đất có thời hạn tối đa 5 năm, tối thiểu 3 năm và được xem xét gia hạn nhiều lần, mỗi lần gia hạn 3 năm.
Giấy phép thăm dò nước dưới đất có thời hạn 2 năm và được xem xét gia hạn một lần, thời gian gia hạn không quá 1 năm. Trường hợp tổ chức, cá nhân đề nghị cấp, gia hạn giấy phép với thời hạn ngắn hơn thì giấy phép được cấp, gia hạn theo thời hạn đề nghị trong văn bản đề nghị cấp phép.
Việt Nam có tổng dòng chảy nước mặt khoảng 844 tỷ m³ mỗi năm, nhưng 60% lượng nước đến từ bên ngoài lãnh thổ. Khi nhu cầu dùng nước tăng, phân bố không đồng đều và nhiều lưu vực chịu áp lực vào mùa cạn, yêu cầu đặt ra hiện nay là đổi mới quản trị tài nguyên nước tổng hợp, dựa trên thể chế, dữ liệu và giá trị kinh tế của nước…
Đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung nguyên tắc: các dự án ven biển, lấn biển, xây dựng công trình trên biển phải xác định rõ lối tiếp cận biển công cộng, bãi biển công cộng và không gian sinh hoạt truyền thống của cộng đồng; không được biến quyền tiếp cận hợp pháp của người dân thành quyền phụ thuộc vào sự cho phép của chủ đầu tư...
Làm rõ quyền hưởng lợi của các chủ thể tham gia tạo ra kết quả giảm phát thải, hấp thụ khí nhà kính, bảo đảm thống nhất với pháp luật về lâm nghiệp; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên, tạo động lực cho người dân, cộng đồng tham gia bảo vệ rừng...
TKV đang triển khai nhiều giải pháp tiết kiệm tài nguyên, từ tái sử dụng nước thải mỏ đến cơ giới hóa, hiện đại hóa thiết bị khai thác. Các hoạt động này nhằm giảm tiêu hao nguyên, nhiên liệu, nâng cao hiệu quả sản xuất và hạn chế tác động đến môi trường, từng bước chuyển đổi sản xuất bền vững trong lĩnh vực khai khoáng…
Từ các cuộc hội thảo, nghiên cứu chung và đề xuất dự án, hợp tác Việt Nam – Nhật Bản tại Nghi Sơn đang hướng tới một chuỗi công việc cụ thể: thu khí thải tại nhà máy, vận chuyển và lưu trữ dưới lòng đất.
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…
Lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký lập đỉnh cao nhất trong vòng 17 năm qua, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng. Tuy nhiên, diện tích gieo cấy lúa lại giảm tới hàng chục nghìn ha, bình quân vẫn còn tới 18,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thi trường. Đó là những điểm nhấn trong tổng quan bức tranh kinh tế Việt Nam 10 tháng qua.