Ngày 16/09/2025, Hội đồng Doanh nghiệp vì sự phát triển bền vững Việt Nam thuộc Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VBCSD-VCCI) tổ chức chương trình chia sẻ về phát triển bền vững với các cơ quan truyền thông lần thứ 8 liên tiếp với chủ đề “Tăng cường quản trị, bảo tồn tài nguyên nước vì mục tiêu phát triển bền vững và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu”.
Chia sẻ tại buổi đối thoại, ông Nguyễn Minh Khuyến, Phó cục trưởng Cục quản lý tài nguyên nước, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết Việt Nam có khoảng 3450 con sông (có chiều dài 10km trở lên). Tuy nhiên, nguồn nước của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào nước ngoài, phân bố không đều theo không gian và thời gian: tổng lượng nước trung bình nhiều năm trên phạm vi toàn quốc khoảng 935,9 tỷ m3/năm (nước mặt khoảng 844,4 tỷ m3/năm, nước dưới đất khoảng 91,5 tỷ m3/năm).
Trong đó, lượng nước từ nước ngoài chảy vào Việt Nam khoảng 504,4 tỷ m3 (chiếm 60%); mùa cạn kéo dài từ 7-9 tháng chỉ chiếm khoảng 28% tổng dòng chảy năm, gây ra nhiều khó khăn trong việc bảo đảm nguồn nước ổn định cho sinh hoạt, sản xuất và phát triển kinh tế.
Theo ông Khuyến, chúng ta đã và đang đứng trước những thách thức để quản lý, bảo vệ và sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên nước. Đó là áp lực phát triển kinh tế - xã hội, nhu cầu nước tăng nhanh chóng. Bình quân trong vòng 50 năm qua, nhu cầu nước đã tăng gấp 3 lần do sự gia tăng dân số, phát triển nông nghiệp, công nghiệp, đô thị hóa. Dự báo đến năm 2030 nhu cầu sử dụng nước cho các ngành khoảng 122,47 tỷ m3/năm, đến năm 2050 khoảng 131,7 tỷ m3/năm.
Cùng với đó, ô nhiễm nguồn nước gia tăng. Sự phát triển kinh tế, quá trình đô thị hóa nhanh, các hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp gia tăng kéo theo các hoạt động xả nước thải, nhất là nước thải chưa được xử lý đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn xả vào nguồn nước… đã và đang tác động, gây sức ép ngày càng lớn, nghiêm trọng đến cả số lượng và chất lượng nguồn nước các sông, suối, các tầng chứa nước.
Mặt khác, mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng nước gia tăng. Những mâu thuẫn chủ yếu liên quan đến lợi ích kinh tế giữa các ngành, lĩnh vực, giữa thượng lưu và hạ lưu các lưu vực sông; giữa nhu cầu dùng nước cho thủy điện với thủy lợi và nhu cầu cho công nghiệp, sinh hoạt và sản xuất ở hạ du các lưu vực sông,...
Trong khi đó, hiệu quả khai thác, sử dụng nước trong các ngành còn thấp và lãng phí, đặc biệt là sử dụng nước cho nông nghiệp và tại các đô thị. Mặc dù GDP đầu người tăng nhanh, đạt trên 2.500 USD năm 2018 (tăng 2,5 lần so với năm 2002) nhưng giá trị sử dụng nước còn thấp, chỉ tạo ra 2,37 USD/m3 nước, chỉ bằng 12% so với mức trung bình toàn cầu (19,42 USD).
"Chúng ta chưa có hệ thống công cụ hỗ trợ ra quyết định phục vụ xây dựng kịch bản nguồn nước, điều hòa, phân phối tài nguyên nước thống nhất trên lưu vực sông để điều phối hoạt động khai thác, sử dụng nước của các ngành, các địa phương, dẫn đến tình trạng sử dụng nước lãng phí, hiệu quả sử dụng không cao, chưa đáp ứng được nhu cầu về an ninh nước sạch, an ninh lương thực và an ninh năng lượng", ông Khuyến nhấn mạnh.
Theo đánh giá của các tổ chức quốc tế, mức đảm bảo an ninh nguồn nước quốc gia của Việt Nam hiện nay chỉ đạt mức 2/5 (trong khi đó ở Indonesia đạt mức 3/5, Hàn Quốc và Úc đạt 4/5 là mức cao nhất thế giới năm 2020). Nguồn tài nguyên có giá trị nhưng không được đánh giá hoặc định giá về mặt kinh tế vì vẫn được xem là của trời cho. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng nước lãng phí và ý thức bảo vệ tài nguyên nước chưa cao.
Ngoài ra, ông Khuyến cũng cho rằng việc đầu tư tài chính ngành nước thời gian qua tuy được quan tâm nhưng vẫn đang thiếu so với nhu cầu. Việc bố trí nguồn lực còn chưa tương xứng và mất cân đối giữa các ngành. Đặc biệt, đầu tư kinh phí cho các hoạt động điều tra cơ bản, kiểm kê, đánh giá tài nguyên nước, các hoạt động bảo vệ tài nguyên nước, phục hồi nguồn nước, phòng, chống suy thoái, cạn kiệt tài nguyên nước..
Đứng trước các tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, khai thác thiếu kiểm soát cũng như ô nhiễm nguồn nước từ các hoạt động của con người, ông Hoàng Việt, Giám đốc Chương trình Nước, Tổ chức WWF-Việt Nam cho rằng cần có cách tiếp cận toàn diện hơn, khoa học hơn trong quản trị nguồn tài nguyên thiết yếu này của cuộc sống.
Các công cụ như Water Risk Filter và khung Water Stewardship đã được WWF chứng minh tính hiệu quả trong việc giúp doanh nghiệp và địa phương ở Việt Nam nhận diện các rủi ro, chủ động thích ứng và tạo ra giá trị bền vững từ nước, thay vì chỉ coi đó là một chi phí đầu vào.
Để bảo vệ tài nguyên nước, đảm bảo an ninh nguồn nước, Cục quản lý tài nguyên nước nhấn mạnh tới định hướng hợp tác công – tư (PPP) thúc đẩy bảo tồn, sử dụng tài nguyên nước hiệu quả. Ông cho rằng trong bối cảnh nhu cầu sử dụng nước ngày càng tăng, trong khi nguồn lực ngân sách Nhà nước còn hạn chế, việc huy động sự tham gia của khu vực tư nhân vào công tác bảo tồn và khai thác, sử dụng hiệu quả tài nguyên nước là hết sức cấp thiết. Sự tham gia của khu vực tư nhân sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh lành mạnh, nâng cao chất lượng dịch vụ cấp nước, xử lý nước thải, giám sát và phục hồi nguồn nước.
Cụ thể, ông Khuyến đưa định hướng thúc đẩy PPP. Trước tiên cần rà soát, hoàn thiện về mặt thể chế như: Ban hành khung pháp lý riêng cho PPP trong lĩnh vực tài nguyên nước; quy định rõ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước – doanh nghiệp – cộng đồng.
Có cơ chế ưu tiên đối với các lĩnh vực hợp tác về tài nguyên nước: Đầu tư nhà máy xử lý nước thải đô thị, làng nghề; phục hồi các nguồn nước bị suy thoái, cạn kiệt, ô nhiễm; phục hồi rừng đầu nguồn; xây dựng, vận hành các hệ thống: quan trắc, dự báo về tài nguyên nước; thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước; hệ thống công cụ hỗ trợ ra quyết định phục vụ điều hòa, phân phối tài nguyên nước.
Đồng thời tạo động lực cho doanh nghiệp thông qua các cơ chế như: Điều chỉnh dần giá nước, phí dịch vụ nước theo nguyên tắc thị trường; ưu đãi thuế, tín dụng xanh cho doanh nghiệp đầu tư bảo vệ nguồn nước.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 45-2026 phát hành ngày 09/11/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Việt Nam có tổng dòng chảy nước mặt khoảng 844 tỷ m³ mỗi năm, nhưng 60% lượng nước đến từ bên ngoài lãnh thổ. Khi nhu cầu dùng nước tăng, phân bố không đồng đều và nhiều lưu vực chịu áp lực vào mùa cạn, yêu cầu đặt ra hiện nay là đổi mới quản trị tài nguyên nước tổng hợp, dựa trên thể chế, dữ liệu và giá trị kinh tế của nước…
Bộ Công Thương vừa ban hành khung giá phát điện mặt trời năm 2026, nâng mức trần cả ba miền và lần đầu phân loại phương án có pin lưu trữ. Quy định mới tạo cơ sở rõ ràng để doanh nghiệp tính toán đầu tư, mở đường gia tăng nguồn cung điện sạch phục vụ cho sản xuất công nghiệp bền vững...
Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ X đã thống nhất 12 mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm cho nhiệm kỳ mới; kiện toàn nhân sự Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự và thông qua Hiến chương sửa đổi lần thứ VIII. Đại hội cũng nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tổ chức, đẩy mạnh chuyển đổi số, thích ứng với mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tiếp tục phát huy tinh thần đoàn kết, hòa hợp và phụng sự Đạo pháp, Dân tộc...
Đối mặt thách thức nhu cầu điện tăng cao, thiếu nguồn điện nền mới, El Niño kéo dài và rủi ro gián đoạn cung ứng nhiên liệu giai đoạn 2027-2028, ngành Công Thương kiên quyết triển khai đồng bộ các kịch bản vận hành, không lùi tiến độ công trình, bảo đảm cung ứng điện…
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…
Lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký lập đỉnh cao nhất trong vòng 17 năm qua, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng. Tuy nhiên, diện tích gieo cấy lúa lại giảm tới hàng chục nghìn ha, bình quân vẫn còn tới 18,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thi trường. Đó là những điểm nhấn trong tổng quan bức tranh kinh tế Việt Nam 10 tháng qua.