Biến đổi khí hậu, sụt giảm dòng chảy sông Mêkông, khai thác nước ngầm quá mức và ô nhiễm môi trường đang đẩy đồng bằng này vào tình trạng “khát nước giữa sông nước”.
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường, lượng nước về đồng bằng sông Cửu Long trong mùa khô những năm gần đây, giảm từ 10 - 15% so với trung bình nhiều năm; trong khi nhu cầu sử dụng nước tăng nhanh cho nông nghiệp, công nghiệp và sinh hoạt.
Đặc biệt, dòng chảy từ thượng nguồn sông Mêkông ngày càng biến động khó lường do hệ thống hơn 160 đập thủy điện ở các quốc gia thượng lưu, làm giảm khả năng điều tiết tự nhiên và khiến xâm nhập mặn gia tăng sớm, kéo dài sâu vào nội đồng.
PGS.TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi khí hậu thuộc Mạng lưới DRAGON - Mekong, Trường Đại học Cần Thơ, nhận định: “Đồng bằng đã vượt qua ngưỡng chịu đựng tự nhiên trước áp lực kép khai thác quá mức và suy thoái nguồn nước. Nếu không có cơ chế quản lý tổng hợp tài nguyên nước, vùng đồng bằng này có thể đối diện nguy cơ khủng hoảng nước ngọt trong hai thập niên tới”.
Trong hơn 20 năm qua, các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long khai thác nước ngầm như một nguồn chủ lực cho sản xuất và sinh hoạt. Số liệu từ Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam cho thấy, mỗi ngày toàn vùng khai thác hơn 2 triệu m3 nước ngầm. Điều này đã dẫn đến hiện tượng sụt lún đất từ 1 - 3 cm/năm, đặc biệt là tại Cà Mau, Sóc Trăng và Bạc Liêu (những địa phương bị xâm nhập mặn hằng năm). Sụt lún không chỉ làm tăng nguy cơ ngập lụt mà còn phá vỡ cấu trúc nền đất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hạ tầng đô thị và giao thông nông thôn.
Cùng với đó, ô nhiễm nước mặt đang trở thành mối lo lan rộng. Các báo cáo giám sát của Sở Nông nghiệp và Môi trường các tỉnh trong vùng cho thấy, nồng độ BOD, COD (BOD, nhu cầu oxy sinh hóa; và COD, nhu cầu oxy hóa học: là chỉ số đo mức độ ô nhiễm hữu cơ trong nước thải - chú thích của người viết) và coliform (là một loại vi khuẩn gram âm kỵ khí, hình que và không có bào tử - NV) tại nhiều kênh rạch vượt chuẩn cho phép, chủ yếu do nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, đặc biệt là nước thải từ nuôi trồng thủy sản.
Đồng bằng đã vượt qua ngưỡng chịu đựng tự nhiên trước áp lực kép khai thác quá mức và suy thoái nguồn nước. Nếu không có cơ chế quản lý tổng hợp tài nguyên nước, vùng đồng bằng này có thể đối diện nguy cơ khủng hoảng nước ngọt trong hai thập niên tới.
Chẳng hạn, một ghi nhận gần đây ở Bạc Liêu, gần 60% hộ nuôi tôm xả thải trực tiếp ra sông rạch mà không qua xử lý. Tình trạng này khiến nhiều con sông bị “chết sinh học”, làm tăng chi phí xử lý nước sinh hoạt và tác động ngược đến chuỗi sản xuất nông nghiệp…
ThS. Nguyễn Hữu Thiện, Chuyên gia độc lập về sinh thái đồng bằng sông Cửu Long, nhận định rằng nước ngọt đang ngày càng hiếm, nhưng chúng ta lại sử dụng lãng phí và thiếu phối hợp. “Mỗi ngành, từ nông nghiệp, công nghiệp đến thủy sản, đều khai thác riêng rẽ, không có cơ chế chia sẻ dữ liệu hay điều phối nguồn nước theo mùa vụ. Đây chính là điểm nghẽn lớn nhất”, ông khẳng định.
Một thách thức khác là mặn hóa và thiếu nước ngọt trong mùa khô. Mùa khô 2024, xâm nhập mặn đã lan sâu tới 70 - 80 km vào nội đồng ở Bến Tre, Trà Vinh, Kiên Giang, khiến hàng trăm nghìn hộ dân thiếu nước sinh hoạt. Riêng tại Cà Mau, người dân ở các huyện Ngọc Hiển, Đầm Dơi (cũ) phải mua nước ngọt với giá 70.000 - 100.000 đồng/m3, đây là mức giá cao gấp hàng chục lần so với giá nước máy ở đô thị.
Theo các chuyên gia, để ứng phó với khủng hoảng nước, cần chuyển hẳn từ tư duy “quản lý theo địa giới hành chính” sang “quản lý theo lưu vực sông”. Nghĩa là đồng bằng sông Cửu Long không thể tự quyết định toàn bộ lượng nước, do hơn 90% dòng chảy đến từ thượng nguồn bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Vì vậy, hợp tác quốc tế trong khuôn khổ Ủy hội sông Mêkông (MRC) cần được nâng tầm cả về dữ liệu, cảnh báo lũ - mặn và quy hoạch sử dụng nước.
Chính phủ Việt Nam cũng đã phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2050, tầm nhìn 2100; trong đó xác định rằng tài nguyên nước là trục trung tâm cho quy hoạch không gian vùng.
Để ứng phó với khủng hoảng nước, cần chuyển hẳn từ tư duy “quản lý theo địa giới hành chính” sang tư duy “quản lý theo lưu vực sông”.
Các tỉnh đang từng bước xây dựng hệ thống trữ nước ngọt đa tầng như hồ chứa nhỏ, ao - mương liên kết, công trình điều tiết nước ngọt - nước mặn linh hoạt. Mô hình ở Bến Tre và Trà Vinh (nay là tỉnh Vĩnh Long mới) bước đầu cho thấy hiệu quả, giúp bảo đảm nước sinh hoạt cho hơn 200.000 hộ dân trong mùa khô năm 2025.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh chuyển đổi sinh kế thích ứng theo nguồn nước. Nhiều địa phương đã giảm diện tích lúa 3 vụ, chuyển sang mô hình lúa - tôm luân canh, trồng cây ăn trái chịu mặn hoặc nuôi thủy sản nước lợ. Việc canh tác thuận thiên này không chỉ giúp giảm áp lực khai thác nước ngọt, mà còn mang lại thu nhập cao hơn.
Đơn cử như, nông dân ở huyện Thạnh Phú (Bến Tre) nhờ mô hình lúa - tôm đạt hiệu quả, lợi nhuận trung bình từ 150 - 180 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 3 lần so với trồng lúa thuần (chuyên canh vụ).
Mặc dù vậy, quản lý hiệu quả tài nguyên nước không thể tách rời công tác quy hoạch đô thị và hạ tầng vùng trũng. Theo nhận định của TS. Trần Bá Hoằng, Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam "nếu không kiểm soát khai thác nước ngầm, hạn chế bê tông hóa và tăng diện tích trữ nước tự nhiên, thì dù có nhiều dự án thủy lợi vẫn khó giải bài toán nguồn nước lâu dài".
Từ nhận định trên, ông đã đề xuất hình thành “hệ thống thông tin nước đồng bằng sông Cửu Long” làm cơ sở dữ liệu mở về mực nước, độ mặn, sụt lún, khai thác nước ngầm… nhằm hỗ trợ các quyết định về quản lý và cảnh báo sớm.
Trên bình diện xã hội, việc nâng cao ý thức sử dụng nước tiết kiệm và xử lý nước thải sinh hoạt và sản xuất, cũng là giải pháp quan trọng không thể thiếu. Như tại Sóc Trăng, các mô hình cộng đồng quản lý nguồn nước sinh hoạt, kết hợp giám sát xả thải, đang giúp giảm đáng kể ô nhiễm tại nhiều tuyến kênh. Bởi khi người dân được tham gia vào quản lý tài nguyên, các chính sách mới có thể đi vào thực tế.
Có thể khẳng định rằng “Giữ nước, là giữ sự sống của đồng bằng”. Không vùng nào trên lãnh thổ Việt Nam phụ thuộc vào tài nguyên nước như ở đồng bằng sông Cửu Long; cũng không vùng nào chịu tác động đa chiều và khốc liệt đến như vậy. Do đó, việc quản lý và khai thác nước giờ không còn là câu chuyện kỹ thuật, mà là vấn đề an ninh môi trường và phát triển con người.
Giữ nước ngọt, giảm khai thác nước ngầm, khôi phục hệ sinh thái rừng ngập mặn, xây dựng hạ tầng trữ nước linh hoạt và hợp tác quốc tế hiệu quả chính là những hướng đi bắt buộc, nếu muốn vùng đồng bằng trù phú trời cho này tiếp tục là vùng đất của sự sống, mà không trở thành “vùng trũng” của rủi ro khí hậu và suy thoái môi trường.
Đồng bằng sông Cửu Long đang ở trước “ngưỡng giới hạn” sinh tồn. Giữ được nguồn nước chính là giữ tương lai cho gần 18 triệu người dân vùng châu thổ sông Mêkông, những người đã và đang sống cùng sông và nước suốt bao đời nay.
Việc hoàn thiện bản dịch tiếng Việt của Bộ Tiêu chuẩn GRI được kỳ vọng sẽ giúp doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa dễ dàng tiếp cận các chuẩn mực báo cáo phát triển bền vững quốc tế, qua đó nâng cao khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu và tiếp cận các nguồn vốn xanh…
Nhiều doanh nghiệp chưa quan tâm đến tín chỉ carbon; nhận thức về tín chỉ carbon cũng chưa đầy đủ; thiếu hụt khung pháp lý, hệ thống Đo đạc- Báo cáo- Thẩm định (MRV) dữ liệu… đang là những rào cản khiến doanh nghiệp Việt Nam chậm tham gia thị trường carbon. Để biến tiềm năng của thị trường này thành giá trị thương mại, Việt Nam cần sớm hoàn thiện khung pháp lý và các hướng dẫn thực hiện minh bạch, mở rộng hợp tác quốc tế và nâng cao năng lực sẵn sàng cho doanh nghiệp...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Việt Nam sở hữu tiềm năng giảm phát thải khí nhà kính trên nhiều lĩnh vực trụ cột như năng lượng, công nghiệp, nông lâm nghiệp và chất thải. Đây là lợi thế lớn để khai thác nguồn tài chính xanh từ thị trường carbon quốc tế theo Điều 6 Thỏa thuận Paris. Dù vậy, khoảng cách từ tiềm năng đến một dự án carbon có thể giao dịch thương mại vẫn rất lớn. Để tối ưu hóa nguồn thu carbon, tiếp cận công nghệ mới và đáp ứng chuẩn mực toàn cầu, doanh nghiệp phải bắt đầu với việc tuân thủ chặt chẽ yêu cầu pháp lý trong nước cũng như các tiêu chuẩn tạo tín chỉ theo Điều 6...
Nghị định số 112/2026/NĐ-CP góp phần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam, mở cánh cửa trao đổi kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon giữa Việt Nam với đối tác quốc tế; góp phần huy động nguồn lực tài chính, công nghệ và kinh nghiệm quốc tế phục vụ quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế phát thải thấp. Tuy nhiên, việc trao đổi quốc tế không chỉ nhằm khai thác giá trị thương mại của tín chỉ carbon mà còn phải bảo đảm lợi ích quốc gia và ưu tiên thực hiện Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) của Việt Nam...
Việt Nam cũng đã từng bước hoàn thiện hành lang pháp lý cho hình thành, phát triển thị trường carbon, vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, đồng thời chủ động kết nối với thị trường quốc tế. Các chuyên gia là đại diện cơ quan quản lý, các chuyên gia trong nước và quốc tế, doanh nghiệp về tiềm năng, sẽ cùng phân tích các cơ hội cũng như những vấn đề đặt ra và kiến nghị giải pháp để khai thác hiệu quả sân chơi mới này.
Trước khi trở thành 1 trong 30 nhà nông trẻ xuất sắc được Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trao Giải thưởng Lương Định Của năm 2025, anh Lê Minh Cương đã trải qua không ít thất bại, thậm chí có thời điểm đứng trước nguy cơ phá sản. Từ một du học sinh ngành du lịch, anh đã lựa chọn trở về quê hương Thanh Hóa để khởi nghiệp với mong muốn tạo ra những sản phẩm sạch từ chính nông sản địa phương.