TP.Hồ Chí Minh mới (sau sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa – Vũng Tàu) đã trở thành siêu đô thị đầu tiên của Việt Nam. Với vị thế là trục đường thủy và không gian cảnh quan quan trọng, KTS đánh giá sông Sài Gòn đã được khai thác tương xứng với tiềm năng chưa? Những thách thức chính trong việc tích hợp con sông này vào chiến lược phát triển hạ tầng đô thị là gì?
Câu chuyện về thành phố và con sông có lẽ là một trong những câu chuyện cổ xưa nhất của văn minh nhân loại. “Nhất cận thị, nhị cận giang”, người Việt từ xa xưa đã gắn sự có mặt của con sông và cuộc sống phố thị như các yếu tố tiên quyết tạo nên một nơi định cư mong muốn. Tại các nước khác trên thế giới, từ trước và sau khi đô thị công nghiệp ra đời, các con sông chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu thành phố, mãi cho đến gần đây, khi ý thức về môi trường trở nên mạnh mẽ và rộng khắp, các con sông đi qua thành phố đã chứng kiến sự ra đời và phát triển của một trào lưu bảo vệ các giá trị môi trường, văn hóa mà chúng đem lại.
Về mặt vật thể, các con sông chảy qua thành phố cung cấp năng lượng và nước, đảm bảo chức năng giao thông đường thủy... Về mặt phi vật thể, dòng sông ghi đậm dấu ấn của mình vào đời sống văn hóa và tinh thần của một thành phố hay của cả một hay một vài đất nước, trở thành biểu tượng văn hóa và tinh thần của các cộng đồng dân cư dọc theo sông.
Sông Sài Gòn bắt đầu từ Rạch Chàm (huyện Lộc Ninh tỉnh Bình Phước cũ) chảy qua Hồ Dầu Tiếng tới TP.Hồ Chí Minh trước khi hợp lưu với sông Đồng Nai trên ranh giới giữa tỉnh Đồng Nai và TP.Hồ Chí Minh và đổ ra biển tại Vũng Tàu. Hai con sông này chiếm vị thế là những trục đường thủy và không gian cảnh quan quan trọng của một khu vực lãnh thổ mà chắc chắn trong một tương lai không xa sẽ trở thành một cực phát triển, có vị thế quan trọng hàng đầu tại châu Á và trên thế giới.
Trong quy hoạch chung mới nhất của TP.Hồ Chí Minh, sông Sài Gòn được chính thức coi là “mặt tiền” của thành phố, khi các khu vực quan trọng nhất của cuộc sống đô thị được bố trí gần sông.
Nhận thức này là một bước tiến đáng kể và dứt khoát so với tâm thế “quay lưng lại với sông” đã từng tồn tại dai dẳng trong một bộ phận dân cư, không những chỉ ở TP.Hồ Chí Minh mà còn ở Hà Nội và các thành phố khác ở Việt Nam.
Về mặt tiềm năng, sông Sài Gòn còn có thể đóng vai trò lớn hơn nữa vì sau khi sáp nhập, TP.Hồ Chí Minh và Bà Rịa - Vũng Tàu đã trở thành một thể thống nhất và cùng với sông Đồng Nai, sông Sài Gòn trở thành mối liên kết tự nhiên quan trọng nhất, một kiểu “xương sống” của siêu đô thị hướng biển này.
Trong một tầm nhìn về tương lai đô thị, khi ý tưởng thành phố song sinh TP.Hồ Chí Minh và Đô thị sân bay Long Thành được thực hiện, hai con sông này cùng với Khu sinh quyển Cần Giờ sẽ tạo ra một nền tảng sinh thái cân bằng cho một khu vực với tiềm năng phát triển hàng đầu ở Đông Nam Á và trên thế giới.
Trong lịch sử phát triển, đô thị TP.Hồ Chí Minh luôn gắn chặt sông Sài Gòn và trong quy hoạch vùng đô thị mở rộng, hành lang sông này được xác định là trục phát triển chiến lược. Theo KTS, làm thế nào để yếu tố lịch sử – văn hóa này được bảo tồn và tích hợp hài hòa vào quy hoạch hiện đại, vừa giữ bản sắc vừa đáp ứng yêu cầu tăng trưởng?
Như với các thành phố lớn khác trên thế giới, sông Sài Gòn đã là một trong những lý do chính để thành phố Sài Gòn ra đời và trong vóc dáng đô thị mới nhất của siêu đô thị TP.Hồ Chí Minh, hành lang sông này được xác định là trục phát triển chiến lược.
Tương tự như các thành phố lớn ở phương Tây công nghiệp hóa sớm, các con sông như Thames ở London, Seine ở Paris và Danube của đế chế Áo Hung, ban đầu đều bị sử dụng tối đa như một lực lượng tạo ra của cải (tức là các giá trị vật thể) phục vụ con người (cung cấp nước, năng lượng, giao thông thủy, thu gom chất thải,...).
Chỉ mới gần đây thôi các giá trị phi vật thể mà con sông mang lại như sự yên bình và ý nghĩa sinh tồn của môi trường sinh thái, tính tượng trưng cho các cộng đồng dân cư đô thị, mới thực sự được coi trọng, con sông đôi khi là biểu tượng của một hay nhiều quốc gia như sông Volga, Danube, Trường Giang, Hằng Hà, Amazon.
Quy hoạch hiện đại của TP.Hồ Chí Minh mở rộng cần phải tìm cách sử dụng và phát huy tối đa không những các yếu tố vật thể của con sông (chất lượng nước, lưu lượng dòng chảy, phương tiện đường thủy hiệu quả và tiện lợi), mà còn phát huy tối đa các yếu tố phi vật thể liên quan đến lịch sử - văn hóa như các nghi lễ tâm linh và cộng đồng, cái mà ta gọi là trí nhớ văn hóa, là sức mạnh gắn bó nhất giữa các cộng đồng chia sẻ vị trí dọc theo con sông.
Việc phát triển hành lang sông có thể thúc đẩy các ngành kinh tế mới như bất động sản sinh thái, du lịch ven sông, logistics đường thủy… Theo KTS, cần chính sách quy hoạch và cơ chế quản trị như thế nào để tránh tình trạng khai thác manh mún, phá vỡ cảnh quan và gây áp lực lên môi trường?
Hành lang sông chính là trục phát triển chiến lược của TP.Hồ Chí Minh mở rộng, một kiểu xương sống mạnh mẽ kết nối và thúc đẩy các ngành kinh tế mới như bất động sản sinh thái, du lịch ven sông, logistics đường thủy.
Đối với các công tác quy hoạch và cơ chế quản trị, cần phải có những hướng suy nghĩ bứt phá phù hợp với xu thế hiện nay trên thế giới. Ví dụ, một mô hình kinh điển với thành phố lõi và các vệ tinh bao quanh (mà hiện nay đang áp dụng ngay cả với quy hoạch mới nhất của TP.Hồ Chí Minh) đã dường như mỏi mòn (worn out), không mang lại hiệu quả rõ ràng và cũng không còn là khuôn mẫu duy nhất cho các đô thị lớn. Xu thế đa tâm, đa cực hiện nay đang tỏ rõ sức mạnh của nó.
Nếu có một liên kết tự nhiên nào nối được các trung tâm hay cực phát triển mới thì đó là một sự phát triển tự nhiên (organic development), tận dụng được các ưu thế phát triển tập trung dọc liên kết đó. Hành lang sông Sài Gòn chính là một liên kết lý tưởng như vậy.
Không thể không nhớ đến các lập luận, hay giấc mơ kinh điển về liên kết dọc này trong mô hình thành phố tuyến tính (Arturio Sorya y Mata, 1886), hay thành phố công nghiệp (Tony Garnier, 1917) trong quá khứ, nhưng không phải trong các điều kiện thô sơ của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất, mà là trong các điều kiện cực kỳ thuận lợi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Với đặc điểm ven sông và tác động của biến đổi khí hậu, KTS cho rằng cần những giải pháp quy hoạch nào để vừa khai thác tối đa tiềm năng, vừa bảo đảm an toàn trước nguy cơ ngập lụt, sạt lở, thay đổi dòng chảy?
Tác động biến đổi khí hậu là một liều xúc tác mạnh mẽ nhất khiến cho việc quản lý điều kiện thủy văn và môi trường gần sông trở thành ưu tiên hàng đầu trong công tác phát triển đô thị, đặc biệt ở Sài Gòn. Ngay từ những năm cuối của thế kỷ trước, chúng tôi đã có dịp góp công sức vào một số dự án ven sông Sài Gòn như Khu Thảo Điền, Công trình Đảo Kim Cương (quận 2 cũ) và Khu đô thị Tấn Hưng (quận 8 cũ và Bình Chánh cũ) ven sông Chợ Đệm.
Trước những tác động ngày càng nghiêm trọng của biến đổi khí hậu, tôi đề xuất hai ưu tiên trong quy hoạch và quản lý hệ thống sông rạch của TP.Hồ Chí Minh.
Thứ nhất, đối mặt với biến đổi khí hậu, các giải pháp quy hoạch phải đi trước một bước khi xét đến các kịch bản nước biển dâng, dựa trên các số liệu quan trắc trong nước và các thông tin mới nhất từ Liên hợp quốc, UNDP và các tổ chức liên quốc gia chuyên về môi trường và dân số.
Thứ hai, cần xây dựng một hệ thống thông tin và quản lý tổng thể hệ thống sông rạch của TP.Hồ Chí Minh với trọng tâm là các sông Sài Gòn và sông Đồng Nai cùng các hợp lưu, làm cơ sở khoa học cho bất cứ kịch bản phát triển đô thị nào.
Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 35+36-2025 phát hành ngày 01/09/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-33.html
Công nghệ viễn thám đóng vai trò quan trọng trong việc thu thập thông tin và dữ liệu về bề mặt Trái Đất và khí quyển từ xa, tác động đến nhiều khía cạnh của cuộc sống. Đặc biệt, các công nghệ viễn thám bao gồm ảnh vệ tinh, cảm biến gắn trên thiết bị bay không người lái và các nền tảng trên mặt đất đang chuyển đổi nền nông nghiệp truyền thống thành một ngành dựa trên dữ liệu, có khả năng đạt được năng suất cao hơn với mức tiêu thụ tài nguyên thấp hơn...
Theo quy hoạch, Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh sẽ cần huy động khoảng 214-241 tỷ USD để đầu tư hơn 2.000 km đường sắt đô thị (metro) trong những thập kỷ tới. Tuy nhiên, thách thức không chỉ ở việc thu xếp đủ nguồn vốn, mà còn ở thiết kế một cơ chế tài chính đủ bền vững để tiếp tục thu hút đầu tư, bảo đảm vận hành hiệu quả và duy trì an toàn tài khóa trong dài hạn...
Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với TS.Vũ Việt Anh về câu chuyện thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học công nghệ cũng như năng lực Lab-to-Market (L2M), đưa sản phẩm “từ phòng lab ra thị trường” của startup và xu hướng “doanh nghiệp một người” trong kỷ nguyên AI.
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số và đón làn sóng FDI công nghệ cao, khu công nghiệp không còn chỉ là nơi cung cấp mặt bằng sản xuất. Từ hạ tầng xanh, chuyển đổi số, hệ sinh thái dịch vụ đến chất lượng môi trường đầu tư, các tiêu chí cạnh tranh đang thay đổi, đòi hỏi khu công nghiệp phải chuyển sang một giai đoạn phát triển mới để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế.
Luật Công nghiệp công nghệ số đã mở rộng phạm vi nhân lực công nghệ số chất lượng cao, không chỉ bao gồm người Việt Nam (cả trong và ngoài nước) mà còn cả chuyên gia nước ngoài đáp ứng các tiêu chí do Chính phủ Việt Nam quy định. Để thu hút lực lượng này, luật đưa ra hàng loạt chính sách ưu đãi...
Tổng lượng phát thải ròng của Việt Nam liên tục tăng qua các giai đoạn, ước tính lượng phát thải ròng năm 2030 là 927 triệu tấn, năm 2050 là 1.500 triệu tấn. Như vậy, để đạt được mục tiêu Net Zero thì nhu cầu sản xuất và cung ứng, bù trừ tín chỉ carbon là khá lớn.
Việc chuẩn bị đầy đủ về thể chế, năng lực kỹ thuật và nguồn lực là điều kiện tiên quyết để tham gia hiệu quả, minh bạch vào thị trường carbon toàn cầu. Đó là khẳng định của Phó Cục trưởng Cục Biến đổi Khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Tuấn Quang.