Sản lượng điện truyền tải tháng 9/2026 ước đạt 23,8 tỷ kWh; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 213,98 tỷ kWh, tăng 10,75% so với cùng kỳ năm 2025. Xu hướng truyền tải chủ yếu theo chiều từ miền Trung ra miền Bắc và từ miền Trung vào miền Nam.
Thông tin về tình hình sản xuất và cung ứng điện tháng 9 và 9 tháng năm 2026, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho biết đã đảm bảo cung ứng đủ điện phục vụ phát triển kinh tế và đời sống nhân dân.
Cụ thể, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống tháng 9/2026 đạt 29,97 tỷ kWh, tăng 9,2% so với cùng kỳ. Lũy kế 9 tháng năm 2026, sản lượng toàn hệ thống đạt 265,79 tỷ kWh, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, thủy điện: 68,48 tỷ kWh, chiếm 25,8%; nhiệt điện than: 132,63 tỷ kWh, chiếm 49,9%; tua bin khí: 20,48 tỷ kWh, chiếm 7,7%; năng lượng tái tạo: 33,6 tỷ kWh, chiếm 12,6% (trong đó điện mặt trời đạt 21,5 tỷ kWh, điện gió đạt 10,85 tỷ kWh); điện nhập khẩu: 10,3 tỷ kWh, chiếm 3,9%.
Sản lượng điện truyền tải tháng 9/2026 ước đạt 23,8 tỷ kWh; lũy kế 9 tháng năm 2026 ước đạt 213,98 tỷ kWh, tăng 10,75% so với cùng kỳ năm 2025. Xu hướng truyền tải chủ yếu theo chiều từ miền Trung ra miền Bắc và từ miền Trung vào miền Nam.
Về công tác đầu tư xây dựng, trong 9 tháng năm 2026, Tập đoàn tiếp tục chỉ đạo, đôn đốc các đơn vị triển khai nhiệm vụ đầu tư xây dựng theo kế hoạch năm, đặc biệt tập trung đầu tư các dự án nguồn và lưới điện trọng điểm theo chỉ đạo của Ban Thường vụ Đảng ủy Tập đoàn tại Nghị quyết 31-NQ/ĐU ngày 21/3/2026.
Kết quả cụ thể tính đến nay, tổ máy 1 Dự án Nhiệt điện Quảng Trạch I tiếp tục chạy thử nghiệm, mục tiêu phát điện thương mại vào cuối tháng 11/2026; tổ máy 2 đã hòa đồng bộ ngày 28/9/2026, phấn đấu phát điện thương mại cuối tháng 12/2026. Các dự án thủy điện: Trị An mở rộng, tích năng Bác Ái đang tiếp tục thi công. Các dự án thủy điện khác gồm: Tuyên Quang mở rộng, Sê San 3 mở rộng, Sê San 4 mở rộng đã duyệt chủ trương đầu tư, đang hoàn thiện báo cáo nghiên cứu khả thi trình cấp thẩm quyền thẩm định. Thủy điện Sơn La mở rộng và Thủy điện Lai Châu mở rộng tiếp tục hoàn thiện hồ sơ đề xuất chủ trương đầu tư báo cáo cấp có thẩm quyền.
Về lưới điện, trong 9 tháng năm 2026, EVN và các đơn vị đã khởi công 136 công trình (02 công trình 500kV, 18 công trình 220kV, 116 công trình 110kV) và đóng điện 131 công trình (05 công trình 500kV, 16 công trình 220kV, 110 công trình 110kV). Riêng tháng 9/2026, đã khởi công 11 công trình và đóng điện 13 công trình lưới điện 110-500kV.
Liên quan đến việc lắp đặt hệ thống lưu trữ (BESS), EVN cho biết Tổng Công ty Điện lực Thành phố Hà Nội (EVNHANOI) đã hoàn thành 50MW; Tổng công ty Điện lực miền Bắc (EVNNPC) hoàn thành 155MW, phấn đấu đạt 305MW tháng 10/2026. Ban Quản lý dự án Điện 2 và Tổng Công ty Phát điện 3 (EVNGENCO 3) tiếp tục triển khai thủ tục đầu tư BESS tập trung tại miền Bắc với quy mô 550MW và 300MW.
Về sản xuất và cung ứng điện trong những tháng cuối năm 2026, EVN cho biết theo phương thức vận hành tháng 10/2026 của Công ty TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO), sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn quốc Quý 4/2026 dự kiến là 88,97 tỷ kWh, tăng 11,3% so với cùng kỳ năm 2025.
Để đảm bảo cung ứng điện trong mọi tình huống và đáp ứng mục tiêu tăng trưởng theo chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và các Bộ Ngành, các đơn vị thành viên EVN sẽ tiếp tục tập trung thực hiện nghiêm, quyết liệt và hiệu quả các nhiệm vụ được giao theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tại Nghị quyết số 168/NQ-CP và 169/NQ-CP ngày 27/6/2026; tiếp tục phối hợp chặt chẽ với NSMO để theo dõi, cập nhật liên tục nhu cầu điện, độ khả dụng các nguồn điện, tình hình thủy văn nước về các hồ nhằm đảm bảo cung cấp điện phục vụ phát triển kinh tế xã hội đất nước trong các tháng cuối năm 2026, đồng thời chuẩn bị sẵn sàng các phương án, kịch bản đảm bảo cung ứng điện cho năm 2027.
Về đầu tư xây dựng nguồn điện, đảm bảo tiến độ dự án trọng điểm: hoàn thành phát điện thương mại 2 tổ máy Nhiệt điện Quảng Trạch I năm 2026; triển khai Dự án LNG Quảng Trạch II theo hợp đồng, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi quý 4/2026; tập trung thi công Thủy điện Trị An mở rộng, Thủy điện tích năng Bác Ái; hoàn thành nâng cấp hệ thống xử lý khí thải nhiệt điện đảm bảo tiêu chuẩn môi trường.
Đối với lưới điện, tập trung triển khai các công trình điện trọng điểm theo chỉ đạo của Chính phủ, Bộ Công Thương. Tập trung thi công, phấn đấu đóng điện toàn tuyến đường dây 220kV Nhà máy điện Nhơn Trạch 3 - Long Thành trong năm 2026. Đôn đốc tiến độ để khởi công các dự án nhập khẩu điện Trung Quốc khu vực Móng Cái (trạm biến áp 220kV Móng Cái, đường dây 220kV Hải Hà - Móng Cái; đường dây từ biên giới - Hải Hà...) với mục tiêu đưa vào vận hành trong quý 2/2027.
Trong bối cảnh Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) và các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế, cà phê Tây Bắc không chỉ cần chứng minh sản phẩm được trồng ở đâu mà còn phải trả lời được câu hỏi sản xuất như thế nào, có phù hợp với điều kiện tự nhiên hay không và tạo ra giá trị gì...
Dù vào mùa nước đổ hay mùa lúa chín, cảnh quan ruộng bậc thang đều có những sắc thái riêng, gắn với nghề truyền thống, ẩm thực và đời sống cộng đồng. Đây cũng là cơ sở để xây dựng các sản phẩm theo mùa thay vì chỉ khai thác một thời điểm cố định trong năm...
Theo Báo cáo Cập nhật Kinh tế khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) công bố ngày 6/10 của Ngân hàng Thế giới (World Bank-WB), kinh tế khu vực này dự kiến tăng trưởng 4,5% trong năm 2026. Trong đó, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng khi được WB nâng dự báo tăng trưởng lên mức 7,4%, tăng 1,1 điểm phần trăm so với dự báo trước đó…
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng GDP 9 tháng năm 2026 đạt mức ấn tượng (9,01%) trong bối cảnh toàn cầu còn nhiều biến động. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng trên 10% cả năm do Quốc hội đề ra, nhiệm vụ đặt ra cho quý 4/2026 là vô cùng lớn với mục tiêu tăng trưởng lên tới 12,5%. Cùng với đó là những thách thức không nhỏ từ lạm phát, tỷ giá và trạng thái nhập siêu của cán cân thương mại.
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo những thay đổi lớn. Nếu người dân không được lắng nghe, doanh nghiệp thiếu niềm tin và các nhóm chịu tác động không được hỗ trợ thích đáng, chi phí xã hội của quá trình cải cách sẽ tăng lên.