Tại Diễn đàn “Chuyển đổi số trong hợp tác xã: Từ dữ liệu sản xuất đến mở rộng thị trường” diễn ra ngày 7/10/2026, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam Cao Xuân Thu Vân khẳng định chuyển đổi số đóng vai trò sống còn đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế tập thể.
Minh chứng cho điều này, bà nêu ví dụ: Cùng một loại cà phê nhân xanh, có nơi chỉ bán được 200.000 – 400.000 đồng/kg, nhưng có nơi lại đạt mức 1 – 2 triệu đồng/kg, thậm chí cao hơn. Sự khác biệt không nằm ở những "câu chuyện cổ tích" tự vẽ ra, mà nằm ở một câu chuyện sản phẩm có nền tảng minh bạch và chứng minh được. Công nghệ thông tin và chuyển đổi số chính là chìa khóa hiện thực hóa điều đó...
CHỈ SỐ TRƯỞNG THÀNH CHUYỂN ĐỔI SỐ CHỈ Ở MỨC BẮT ĐẦU
Theo bà Vân, đã có những mô hình hợp tác xã thành công nhờ biết khai thác công nghệ. Chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, hợp tác xã đã có thể giới thiệu trọn vẹn quy trình sản xuất, nguồn gốc sản phẩm tới khách hàng. Nhờ sự minh bạch nói thật, làm thật, chỉ sau 2 năm thành lập, hợp tác xã này đã thu hút 8 đoàn khách quốc tế đến tham quan, học hỏi và đặt trọn niềm tin.
Tuy nhiên, nhìn vào bức tranh tổng thể, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam thẳng thắn nhìn nhận mức độ chuyển đổi số của khu vực hợp tác xã trong nước hiện vẫn đang ở mức rất thấp so với thế giới. Phần lớn các đơn vị vẫn đang loay hoay, lúng túng trên hành trình này.
Khảo sát do Viện Khoa học Kinh tế hợp tác thực hiện, cho thấy chỉ số trưởng thành chuyển đổi số của khu vực kinh tế tập thể mới đạt khoảng 29,5%, tức chỉ ở mức bắt đầu. Dù các thiết bị số ngày càng phổ biến, việc ứng dụng vào quản trị, tổ chức sản xuất hay phát triển thị trường vẫn gặp nhiều hạn chế. Điểm nghẽn không đơn thuần nằm ở thiết bị hay công nghệ, mà ở dữ liệu, kỹ năng, nguồn lực, phương thức quản trị và đặc biệt là năng lực chuyển hóa công nghệ thành hiệu quả kinh tế.
Đồng tình với nhận định này, ông Trịnh Anh Tuấn, Viện Khoa học Kinh tế hợp tác nhận xét rằng dù chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đã trở thành yêu cầu quan trọng, thực tế cho thấy khoảng cách từ vạch xuất phát đến việc hình thành năng lực số đầy đủ ở các hợp tác xã vẫn còn rất xa.
Tín hiệu khả quan nhất hiện nay là tỷ lệ thành viên sở hữu điện thoại thông minh rất cao, đạt 4,67/5 điểm, tạo nền tảng thuận lợi cho chuyển đổi số và thương mại điện tử. Thế nhưng, tỷ lệ nhân viên áp dụng internet cho công việc lại rất khiêm tốn, chỉ đạt 2,27 điểm. Việc kết nối với khách hàng chủ yếu dừng ở mức gọi điện, nhắn tin hay gửi ảnh qua các ứng dụng trao đổi như Zalo, Messenger.
Đáng quan ngại hơn, công tác đào tạo công nghệ thông tin cho nhân viên gần như không có, chỉ đạt từ 1,08 đến 1,13 điểm. Tần suất sử dụng các ứng dụng số cũng phản ánh giai đoạn non trẻ khi điểm trung bình toàn ngành chỉ đạt 1,28 trên 5 điểm. Trong đó, mức độ giao tiếp với khách hàng qua môi trường số đạt 1,37 điểm, còn chỉ tiêu cập nhật danh mục sản phẩm số đạt 1,18 điểm.
Ở nhóm tiếp thị điện tử, tần suất hoạt động đạt 1,45 điểm, tần suất cập nhật đạt 1,18 điểm và tỷ lệ chi đầu tư đạt 1,19 điểm. Với thương mại điện tử, tần suất sử dụng sàn thương mại điện tử đạt 1,24 điểm, đóng góp doanh thu đạt 1,2 điểm và tần suất cập nhật sản phẩm đạt 1,22 điểm.
Để giải triệt để bài toán này, bà Vân cho rằng cần tập trung giải quyết các câu hỏi cốt lõi về việc hợp tác xã chuyển đổi số bắt đầu từ đâu, cần hỗ trợ những gì, ai sẽ đồng hành, nguồn lực lấy từ đâu và quan trọng nhất là chuyển đổi số mang lại giá trị thực tế gì cho hợp tác xã cùng các thành viên. Việc trả lời rõ ràng những câu hỏi này sẽ khẳng định chuyển đổi số là yêu cầu tất yếu và là con đường bắt buộc phải đi.
Thay vì bắt đầu bằng câu hỏi mua công nghệ gì, hợp tác xã phải xuất phát từ việc xác định mình đang cần giải quyết vấn đề gì, bởi công nghệ chỉ thực sự có giá trị khi giải quyết được các vấn đề thực tế. Hành trình chuyển đổi số của hợp tác xã cần một lộ trình rõ ràng gồm ba trụ cột chính: dữ liệu, quản trị và thị trường.
Trụ cột đầu tiên và là tài nguyên quý giá nhất chính là dữ liệu. Dù có phần mềm tiên tiến hay tiện ích đến đâu nhưng thiếu dữ liệu thì cũng giống như có một bộ bàn ghế đẹp hay bát chén đầy đủ nhưng lại không có thức ăn.
Dữ liệu của hợp tác xã không phải điều gì xa xôi, mà là thông tin thành viên, vùng nguyên liệu, mùa vụ, quy trình sản xuất, sản lượng, chất lượng, chi phí, khách hàng và thị trường. Dữ liệu được chuẩn hóa sẽ giúp hợp tác xã biết rõ mình sản xuất cái gì, sản lượng bao nhiêu, chất lượng ra sao, chi phí thế nào và thị trường đang cần gì, qua đó tạo nền tảng để thực hiện truy xuất nguồn gốc và minh bạch hóa sản phẩm.
Trụ cột tiếp theo là quản trị. Dữ liệu và công nghệ giúp hợp tác xã quản lý thành viên tốt hơn, tổ chức sản xuất hiệu quả hơn, giảm chi phí, nâng cao năng suất, kiểm soát chất lượng và ra quyết định nhanh chóng hơn. Nếu đầu tư công nghệ nhưng quản trị không tiến bộ, chi phí không giảm và hiệu quả không tăng thì cần phải xem lại cách thức chuyển đổi số.
Trụ cột cuối cùng là thị trường. Chuyển đổi số giúp sản phẩm tiếp cận nhiều khách hàng hơn, kết nối hiệu quả với doanh nghiệp và hệ thống phân phối, tham gia thương mại điện tử và từng bước đi sâu vào chuỗi giá trị. Thước đo chuyển đổi số không phải là hợp tác xã sở hữu bao nhiêu phần mềm, mà phải là quản trị tốt hơn bao nhiêu, chi phí giảm được bao nhiêu, năng suất và chất lượng tăng thế nào, thị trường mở rộng ra sao và cuối cùng là thu nhập của hợp tác xã cùng các thành viên có tăng lên hay không.
Tuy nhiên, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam lưu ý đây là hành trình dài hạn với lộ trình tối thiểu là 3 năm, trung bình là 5 năm, và hành trình bền vững từ chuyển đổi số đến thu nhập ổn định phải kéo dài 10 năm. Điều này đòi hỏi sự đầu tư rất bài bản và khoa học từ phía các hợp tác xã.
Bên cạnh nỗ lực nội tại, chuyển đổi số cần được đặt trong một hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện. Trong đó, Nhà nước kiến tạo thể chế, hạ tầng dữ liệu và chính sách; hệ thống Liên minh Hợp tác xã Việt Nam kết nối nhu cầu của các đơn vị với chính sách, công nghệ, tài chính và thị trường; doanh nghiệp công nghệ cung cấp các giải pháp đơn giản, dễ sử dụng, thiết kế phân cấp theo từng lộ trình học từ mầm non lên đại học.
Các tổ chức tài chính và tín dụng cần thiết kế sản phẩm phù hợp để cung cấp nguồn lực đầu tư, trong khi các doanh nghiệp phân phối cần đặt ra yêu cầu rõ ràng về chất lượng, dữ liệu và truy xuất nguồn gốc.
Bản thân các hợp tác xã cũng phải chủ động thay đổi tư duy quản trị, xem dữ liệu là tài sản và công nghệ là công cụ nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh. Khi các chủ thể kết nối thành hệ sinh thái thay vì hoạt động riêng lẻ, chi phí và rủi ro chuyển đổi số cho hợp tác xã sẽ được giảm thiểu đáng kể.
Chính sách khuyến công không trực tiếp hỗ trợ trồng trọt, chăn nuôi hay nuôi trồng thủy sản, mà tập trung vào khâu phía sau của chuỗi giá trị như chế biến, bảo quản, hoàn thiện sản phẩm, đổi mới thiết bị và phát triển thị trường. Đây là những yếu tố quan trọng để nâng cao giá trị nông sản, thay vì chỉ tiêu thụ dưới dạng nguyên liệu thô...
Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đang phân hóa mạnh cùng yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng cao, nguồn nguyên liệu rừng trồng trong nước đang trở thành lợi thế quan trọng, giúp ngành gỗ giảm phụ thuộc nhập khẩu và nâng sức cạnh tranh...
Dự thảo Nghị định mới về kinh doanh xăng dầu hướng tới vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, trao quyền định giá cho doanh nghiệp, nâng cao năng lực thương nhân đầu mối và bảo đảm vững chắc nguồn cung…
Chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Panama José Raúl Mulino cùng Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam – Panama với chủ đề “Kết nối thị trường – Kiến tạo cơ hội hợp tác” đã đánh dấu một mốc phát triển quan trọng trong quan hệ hợp tác giữa hai quốc gia...
Sau thời gian triển khai liên tục trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, chiến dịch bảo dưỡng tổng thể (BDTT) Nhà máy Đạm Cà Mau năm 2026 đã hoàn thành an toàn, bảo đảm chất lượng và tiến độ đề ra. Nhà máy chính thức trở lại vận hành và bắt đầu có sản phẩm trở lại từ 2:00 ngày 7/10/2026.
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Phó Thống đốc Phạm Thanh Hà khẳng định, Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại sẽ tập trung đẩy mạnh các chương trình tín dụng, nhất là tín dụng với lãi suất ưu đãi cho các tế bào thực tăng trưởng của nền kinh tế và hướng tới các doanh nghiệp nhỏ và vừa.