Ngày 25/8/2026, tại Hà Nội, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam tổ chức Đại hội lần thứ VII, nhiệm kỳ 2026-2031.
Dự Đại hội có ông Nguyễn Hồng Diên, Phó Chủ tịch Quốc hội; GS.TS Nguyễn Thị Doan, nguyên Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam; bà Hà Thị Nga, Phó Chủ tịch - Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cùng lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương.
Đại hội cũng có sự tham dự của đại diện các cơ quan ngoại giao, Liên hợp quốc, tổ chức quốc tế, tổ chức hợp tác xã và đối tác phát triển quốc tế. Đặc biệt, 400 đại biểu chính thức, đại diện cho hơn 35.000 hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã, cộng đồng kinh tế tập thể và 7,1 triệu thành viên trên cả nước tham dự Đại hội.
Phát biểu khai mạc Đại hội, bà Cao Xuân Thu Vân, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam nhấn mạnh trong bối cảnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và thị trường quốc tế mở ra nhiều cơ hội mới, Đại hội cần nhận diện các nguồn lực, định hình tương lai của kinh tế tập thể và hợp tác xã Việt Nam.
"Hợp tác xã không chỉ là nơi tập hợp người sản xuất mà phải trở thành phương thức giúp người sản xuất nhỏ tiếp cận cơ hội lớn, kết nối tri thức, công nghệ, thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh", bà Vân khẳng định; đồng thời yêu cầu dù công nghệ và thị trường thay đổi, hợp tác xã cần giữ vững bản chất, trong đó thành viên là chủ thể, hợp tác tự nguyện là nền tảng và lợi ích của thành viên là thước đo phát triển.
Ông Võ Văn Hưng, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết đến tháng 4/2026, cả nước có khoảng 23.289 hợp tác xã nông nghiệp; hơn 2.600 hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao, 2.573 hợp tác xã là chủ thể OCOP và gần 4.700 hợp tác xã tham gia liên kết chuỗi giá trị.
"Hợp tác xã nông nghiệp là công cụ hiệu quả để tổ chức lại nền sản xuất nhỏ lẻ, manh mún theo hướng hàng hóa, hiện đại, gắn với thị trường. Thông qua hợp tác xã, nông dân có thể liên kết sản xuất theo quy trình thống nhất, tiếp cận vật tư với chi phí hợp lý, ứng dụng khoa học công nghệ, nâng cao năng suất, chất lượng và hình thành quy mô sản xuất lớn, đồng thời bảo đảm quyền sử dụng đất", Thứ trưởng Võ Văn Hưng nhận định.
Hiện nay, các hợp tác xã đã từng bước áp dụng VietGAP, GlobalGAP, sản xuất hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn và giảm phát thải khí nhà kính. Đồng thời đang trở thành “hạt nhân chuyển đổi số” ở nông thôn, giúp tập hợp nguồn lực, chia sẻ chi phí đầu tư công nghệ và hỗ trợ nông dân tiếp cận các giải pháp quản trị hiện đại. Khi thị trường carbon nông nghiệp hình thành, hợp tác xã có thể trở thành đầu mối tổ chức sản xuất, đo lường, xác nhận và chia sẻ lợi ích từ tín chỉ carbon cho nông dân.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Thứ trưởng Võ Văn Hưng cũng chỉ rõ: khu vực hợp tác xã vẫn hạn chế về quy mô, năng lực quản trị, vốn, hạ tầng và nhân lực chất lượng cao; chuyển đổi số và liên kết chuỗi giá trị chưa đồng đều. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, phát triển hợp tác xã gắn với vùng nguyên liệu và chuỗi giá trị, đồng thời thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tăng cường tín dụng, hạ tầng và đào tạo nhân lực.
Tại Đại hội hàng chục đại biểu là các hợp tác đã chia sẻ những mô hình, cách làm hiệu quả trong phát triển hợp tác xã, tập trung vào liên kết chuỗi giá trị, xây dựng sản phẩm OCOP, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và mở rộng thị trường.
Ông Đỗ Xuân Trường, Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình, cho biết toàn tỉnh hiện có 1.468 hợp tác xã và quỹ tín dụng nhân dân. Trong đó, có 129 hợp tác xã và 1 tổ hợp tác sở hữu hơn 250 sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên. Một số mô hình tiêu biểu đã kết hợp sản xuất với du lịch, phát triển sản phẩm hữu cơ, xây dựng thương hiệu và phục hồi giống cây bản địa.
Tại Vĩnh Long, ông Thái Phước Lộc, Chủ tịch Liên minh hợp tác xã tỉnh nhấn mạnh phát triển chuỗi giá trị cung ứng - tiêu thụ là giải pháp chiến lược. Toàn tỉnh có 645 hợp tác xã. Trong nông nghiệp, hơn 107 hợp tác xã đã liên kết sản xuất, tiêu thụ với doanh nghiệp; nhiều đơn vị áp dụng VietGAP, GlobalGAP, truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số. Các chuỗi lúa gạo, cây ăn trái, khoai lang, rau màu, thủy sản và OCOP đang từng bước hình thành.
Chia sẻ về mô hình đã mang lại kết quả trên thực tế, ông Trịnh Văn Cường, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Vĩnh Cường (xã Vĩnh Mỹ, tỉnh Cà Mau), cho biết hợp tác xã đã áp dụng các giải pháp canh tác bền vững như giảm lượng giống gieo sạ, tưới ngập khô xen kẽ, quản lý dịch hại tổng hợp và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Qua đó, nông dân giảm 2,5-3 triệu đồng/ha chi phí sản xuất, đồng thời giảm phát thải và nâng cao chất lượng hạt gạo.
Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp Vĩnh Cường được thành lập năm 2016, đến nay đã có 485 thành viên chính thức và hơn 10.000 thành viên liên kết. Giai đoạn 2024-2025, Hợp tác xã đăng ký thực hiện 9.800 ha trong Đề án phát triển bền vững 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao, phát thải thấp; trong đó hơn 2.700 ha đạt tiêu chuẩn SRP và 7.000 ha được cấp mã vùng truy xuất nguồn gốc. Năm 2026, diện tích tham gia tiếp tục tăng lên hơn 10.100 ha.
Đến từ Thành phố Cần Thơ, bà Nguyễn Kim Thùy, Giám đốc Hợp tác xã Kỳ Như, cho biết hợp tác xã lựa chọn hướng đi là chế biến sâu và xuất khẩu. Đến nay Kỳ Như có 11 sản phẩm OCOP, trong đó 10 sản phẩm đạt 4 sao và 1 sản phẩm đạt 5 sao cấp quốc gia. Sản phẩm thủy sản của Hợp tác xã đã được xuất khẩu sang Hoa Kỳ và Hàn Quốc. Hợp tác xã cũng đầu tư hơn 10,3 tỷ đồng cho nhà xưởng, dây chuyền chế biến, cấp đông, kho lạnh và đóng gói.
Ông Phạm Văn Dũng, Chủ tịch HĐQT kiêm Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp, sản xuất và kinh doanh dịch vụ tổng hợp Hồng Xuân ở phường Chũ, tỉnh Bắc Ninh, chia sẻ đơn vị đã đưa vải thiều trở thành sản phẩm OCOP 5 sao nhờ chuẩn hóa quy trình sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu, truy xuất nguồn gốc, đầu tư sơ chế, bảo quản và phát triển thương hiệu. Hợp tác xã hiện có 5 sản phẩm OCOP, toàn bộ sản phẩm chủ lực được chứng nhận VietGAP, GlobalGAP và có tem truy xuất nguồn gốc.
Là hợp tác xã đã lựa chọn tập trung vào công nghệ cao và chế biến sâu, ông Đào Minh Cường, Giám đốc Hợp tác xã Nho Evergreen Ninh Thuận, cho biết đơn vị đang quản lý hơn 30 ha nho, cung cấp khoảng 900 tấn sản phẩm mỗi năm và phát triển 14 dòng sản phẩm chế biến, trong đó 8 sản phẩm đạt OCOP 3-4 sao.
Sau thời gian triển khai liên tục trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, chiến dịch bảo dưỡng tổng thể (BDTT) Nhà máy Đạm Cà Mau năm 2026 đã hoàn thành an toàn, bảo đảm chất lượng và tiến độ đề ra. Nhà máy chính thức trở lại vận hành và bắt đầu có sản phẩm trở lại từ 2:00 ngày 7/10/2026.
Theo tính toán của SNMO, sản lượng điện toàn quốc quý 4/2026 dự kiến đạt 88,97 tỷ kWh, tăng 11,3% so với cùng kỳ. Để bảo đảm nguồn cung, EVN tập trung đưa hai tổ máy Nhiệt điện Quảng Trạch I vào vận hành thương mại, đồng thời đẩy nhanh tiến độ các công trình nguồn và lưới điện trọng điểm…
Trong bối cảnh Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR) và các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế, cà phê Tây Bắc không chỉ cần chứng minh sản phẩm được trồng ở đâu mà còn phải trả lời được câu hỏi sản xuất như thế nào, có phù hợp với điều kiện tự nhiên hay không và tạo ra giá trị gì...
Dù vào mùa nước đổ hay mùa lúa chín, cảnh quan ruộng bậc thang đều có những sắc thái riêng, gắn với nghề truyền thống, ẩm thực và đời sống cộng đồng. Đây cũng là cơ sở để xây dựng các sản phẩm theo mùa thay vì chỉ khai thác một thời điểm cố định trong năm...
Theo Báo cáo Cập nhật Kinh tế khu vực Đông Á và Thái Bình Dương (EAP) công bố ngày 6/10 của Ngân hàng Thế giới (World Bank-WB), kinh tế khu vực này dự kiến tăng trưởng 4,5% trong năm 2026. Trong đó, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng khi được WB nâng dự báo tăng trưởng lên mức 7,4%, tăng 1,1 điểm phần trăm so với dự báo trước đó…
Việt Nam đã vươn lên thành một trong những “cường quốc xuất khẩu” trên thế giới. Tuy nhiên, đằng sau kim ngạch hàng trăm tỷ USD và những dòng hàng hóa đã đi khắp các thị trường, thương hiệu Việt vẫn đang đối mặt với bài toán định vị và nâng cao giá trị trên bản đồ toàn cầu.
Tăng trưởng nhanh sẽ kéo theo những thay đổi lớn. Nếu người dân không được lắng nghe, doanh nghiệp thiếu niềm tin và các nhóm chịu tác động không được hỗ trợ thích đáng, chi phí xã hội của quá trình cải cách sẽ tăng lên.