Sáng 7/11, thảo luận tại Tổ 8 và Tổ 4 về chủ trương đầu tư ba dự án đường bộ cao tốc Bảo Hà - Lai Châu, đoạn Bảo Hà - Tân Phong; Quảng Ngãi - Kon Tum; Mộc Châu - Sơn La - Điện Biên, đoạn qua địa phận tỉnh Sơn La, các đại biểu cơ bản đồng tình với sự cần thiết triển khai các dự án.
Các ý kiến cho rằng đây là những tuyến giao thông có ý nghĩa đối với kết nối vùng, phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh tại các địa bàn miền núi, biên giới. Tuy nhiên, bên cạnh sự đồng thuận về chủ trương, vấn đề được nhiều đại biểu tập trung phân tích là khả năng cân đối nguồn vốn, nhất là phần kinh phí bồi thường, hỗ trợ, tái định cư mà địa phương phải bố trí.
Tại Tổ 8, đại biểu Vũ Danh Hiệp (Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ) dẫn số liệu từ Bộ Tài chính cho thấy tỷ lệ vốn giải phóng mặt bằng trong kế hoạch đầu tư công trung hạn của một số tỉnh miền núi chiếm phần lớn nguồn lực địa phương. Riêng Lai Châu phải dành hơn 38% tổng kế hoạch đầu tư công trung hạn cho công tác này, trong khi tỷ lệ tương ứng tại Nghệ An là 6,4%, Gia Lai là 2,2%.
Theo đại biểu, sự chênh lệch về khả năng cân đối ngân sách giữa các địa phương cần được tính đến khi xác định trách nhiệm bố trí vốn đối ứng. Đại biểu kiến nghị Chính phủ xem xét chuyển toàn bộ phần vốn đối ứng giải phóng mặt bằng của các địa phương khó khăn sang ngân sách Trung ương, đồng thời sử dụng nguồn tăng thu ngân sách Trung ương năm 2026 để xử lý ngay, thay vì chờ cân đối trong kế hoạch đầu tư công trung hạn.
Đồng tình với hướng đề xuất này, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La Hoàng Văn Nghiệm cho biết tỉnh có diện tích tự nhiên lớn, dân số đông nhưng tổng vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn tới chỉ khoảng 6.800 tỷ đồng. Trong khi đó, đoạn cao tốc đi qua địa bàn Sơn La dài khoảng 179 km, nhu cầu kinh phí giải phóng mặt bằng lên tới hơn 8.000 tỷ đồng.
Theo ông Nghiệm, nếu phải tự cân đối toàn bộ phần vốn đối ứng, Sơn La sẽ gặp khó khăn trong bố trí nguồn lực cho các công trình giao thông kết nối liên xã, phòng chống thiên tai và các chính sách an sinh xã hội.
Tại Tổ 4, đại biểu Nguyễn Minh Tâm (Đoàn ĐBQH tỉnh Quảng Trị) cũng đề nghị làm rõ phương án phân bổ vốn cho dự án Bảo Hà - Lai Châu, đoạn Bảo Hà - Tân Phong. Theo phương án sơ bộ, dự án có tổng mức đầu tư gần 51.000 tỷ đồng, trong đó ngân sách Trung ương dự kiến bố trí gần 49.000 tỷ đồng, ngân sách địa phương khoảng hơn 2.000 tỷ đồng để thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư trên địa bàn hai tỉnh Lai Châu và Lào Cai.
Đại biểu cho rằng cần làm rõ căn cứ để tỉnh Lào Cai không tham gia vốn cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; đồng thời xác định nghĩa vụ đóng góp của từng địa phương phù hợp với khả năng cân đối thực tế, tránh áp dụng một tỷ lệ chung cho các tỉnh có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau.
Trường hợp chi phí giải phóng mặt bằng, tái định cư tăng, đại biểu đề nghị có cơ chế để ngân sách Trung ương hỗ trợ bổ sung, không để địa phương phải cắt giảm nguồn lực dành cho giáo dục, y tế và các nhiệm vụ an sinh thiết yếu.
Bên cạnh nguồn vốn, công tác giải phóng mặt bằng và bố trí tái định cư cũng được các đại biểu lưu ý. Đại biểu Quàng Văn Hương (Đoàn ĐBQH tỉnh Sơn La) đề nghị các địa phương chủ động chuẩn bị đội ngũ nhân lực có chuyên môn tại các trung tâm phát triển quỹ đất, đáp ứng khối lượng công việc lớn khi triển khai dự án.
Đối với những hộ dân phải di dời, các đại biểu đề nghị ưu tiên bố trí tái định cư tại chỗ đối với các hộ có nguyện vọng; đồng thời xây dựng chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp, gắn sinh kế tại nơi ở mới với các sản phẩm nông nghiệp có lợi thế của địa phương.
Ngoài bài toán nguồn vốn, tác động đến đất rừng và môi trường là một trong những nội dung được các đại biểu tại Tổ 8 quan tâm.
Đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng (Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ) bày tỏ lo ngại về diện tích đất rừng dự kiến thu hồi để thực hiện ba dự án, chiếm khoảng 25% tổng diện tích sử dụng đất; trong đó diện tích rừng tự nhiên khoảng 780 ha.
Đại biểu đề nghị Chính phủ rà soát kỹ hướng tuyến, hạn chế tối đa tác động đến rừng tự nhiên. Theo đại biểu, việc phá hủy rừng không chỉ khó khôi phục mà còn có thể làm gia tăng nguy cơ sạt lở, mưa lũ, ảnh hưởng đến an toàn công trình và đời sống người dân trong khu vực.
Cùng quan điểm, đại biểu Lê Minh Nam (Đoàn ĐBQH thành phố Cần Thơ) đề nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Xây dựng đánh giá chuyên sâu tác động của dự án đối với đất đai, đất lúa và đất rừng. Công tác quản lý bãi đổ thải cũng cần được kiểm soát để tránh gây bồi lấp dòng chảy, ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của người dân.
Về tiêu chuẩn kỹ thuật, đại biểu Quàng Văn Hương cho rằng địa hình miền núi phức tạp có thể khiến việc đầu tư cầu cạn, hầm xuyên núi và vận chuyển vật liệu gặp nhiều khó khăn, làm tăng suất đầu tư. Do đó, cần tính toán phù hợp với điều kiện từng tuyến, tránh áp dụng máy móc suất đầu tư của các dự án tại khu vực đồng bằng, trung du.
Đối với tốc độ thiết kế, đại biểu đồng tình với việc có thể lựa chọn tốc độ 80 km/h trong giai đoạn đầu do điều kiện địa hình, nhưng đề nghị vẫn bảo đảm quỹ đất và tầm nhìn quy hoạch để có thể nâng cấp lên 100 km/h trong tương lai.
Về cơ chế chỉ định thầu, đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng cho rằng đây có thể là giải pháp rút ngắn thời gian triển khai, nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ giảm cạnh tranh, thiếu minh bạch và phát sinh lợi ích nhóm nếu không được kiểm soát chặt chẽ.
Đại biểu đề nghị chỉ áp dụng chỉ định thầu đối với những gói thầu thực sự cấp bách, như tư vấn lập quy hoạch hoặc thi công hạ tầng khu tái định cư. Các gói thầu xây lắp khác nên thực hiện đấu thầu rộng rãi theo quy định của Luật Đấu thầu nhằm bảo đảm cạnh tranh, công khai và hiệu quả sử dụng vốn nhà nước.
Tại Tổ 4, đại biểu Nguyễn Minh Tâm cũng lưu ý việc áp dụng cơ chế chỉ định thầu cần gắn với yêu cầu lựa chọn nhà thầu đủ năng lực, kiểm soát chi phí, chất lượng và trách nhiệm giải trình, phòng ngừa thất thoát, lãng phí.
Một vấn đề khác được đại biểu Vũ Danh Hiệp đặt ra là thẩm quyền điều chỉnh chủ trương đầu tư. Đại biểu đề nghị cân nhắc việc phân cấp thẩm quyền từ Quốc hội sang Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Với những thay đổi lớn về mục tiêu dự án hoặc trường hợp tổng mức đầu tư tăng vượt quá 20% so với mức Quốc hội quyết định, đại biểu kiến nghị phải trình lại Quốc hội xem xét, quyết định, nhằm bảo đảm thẩm quyền đối với các quyết định liên quan đến ngân sách nhà nước.
Các ý kiến tại hai tổ cho thấy bên cạnh việc thống nhất về sự cần thiết đầu tư ba tuyến cao tốc, nhiều vấn đề trong tổ chức thực hiện vẫn cần được làm rõ, từ trách nhiệm bố trí vốn của từng địa phương, phương án giải phóng mặt bằng, bảo vệ đất rừng đến phạm vi áp dụng cơ chế đặc thù. Đây là những nội dung được đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo và Chính phủ tiếp tục rà soát trong quá trình hoàn thiện hồ sơ trình Quốc hội.
Nhà máy thứ 3 của Nhôm Việt Dũng được đặt tại Khu Công nghiệp Bá Thiện phân khu I, tỉnh Phú Thọ sẽ tập trung vào mảng sản xuất vật liệu hoàn thiện mới như tấm ốp chống cháy, trần nhôm, lam chắn nắng…, nâng tổng công suất toàn hệ thống lên mức 20 triệu m2 sản phẩm mỗi năm…
Nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị quy định chặt chẽ hơn các trường hợp chỉ định thầu, kiểm soát việc xác định giá gói thầu và làm rõ trách nhiệm của chủ đầu tư, nhà thầu nhằm hạn chế thất thoát, lãng phí và bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn...
Sân bay Long Thành đang bước vào giai đoạn chuẩn bị cuối cùng để đón những chuyến bay đầu tiên vào tháng 12/2026. Tuy nhiên, tiến độ các gói thầu trọng điểm, thanh toán cho nhà thầu và hạ tầng kết nối vẫn là những vấn đề cần xử lý đồng bộ.
Vận tải hành khách và hàng hóa tiếp tục tăng trưởng hai chữ số trong 10 tháng năm 2026. Tuy nhiên, đường bộ vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất về khối lượng hàng hóa vận chuyển, trong khi vận tải đường sắt ghi nhận diễn biến trái chiều giữa hành khách và hàng hóa...
Đến ngày 5/11/2026, 15 tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông đã thu phí và nộp ngân sách Nhà nước 3.507 tỷ đồng, với tổng lưu lượng hơn 37,5 triệu lượt phương tiện kể từ khi triển khai thu phí...
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…
Lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký lập đỉnh cao nhất trong vòng 17 năm qua, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng. Tuy nhiên, diện tích gieo cấy lúa lại giảm tới hàng chục nghìn ha, bình quân vẫn còn tới 18,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thi trường. Đó là những điểm nhấn trong tổng quan bức tranh kinh tế Việt Nam 10 tháng qua.