
Dù đang nỗ lực tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, nhưng so với các thị trường đã phát triển, ngành dược Việt Nam vẫn còn khoảng cách đáng kể so với thế giới. Để xác định chính xác vị thế của Việt Nam trên bản đồ dược phẩm thế giới, trước hết hãy cùng nhìn vào bức tranh ngành dược khu vực Đông Nam Á – nơi đang chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của ngành dược.
Theo Báo cáo Tổng quan Ngành dược Việt Nam của IQVIA cuối năm 2024, Việt Nam hiện dẫn đầu khu vực Đông Nam Á về doanh số bán dược phẩm, đạt 8,881 tỷ USD – tăng 5% so với cùng kỳ năm trước. Con số này vượt qua cả Thái Lan (7,958 tỷ USD) và Philippines (4,954 tỷ USD), cho thấy tốc độ tăng trưởng ấn tượng của ngành dược Việt Nam.
Trên nền tảng đó, việc Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành trung tâm sản xuất dược phẩm chất lượng cao trong khu vực là hoàn toàn có cơ sở và khả thi. Đây cũng là căn cứ quan trọng để Cục Quản lý Dược (Bộ Y tế) dự báo thị trường dược phẩm Việt Nam sẽ đạt hơn 10 tỷ USD vào năm 2026.
Tầm nhìn này càng trở nên rõ nét hơn khi Chính phủ xác định ngành dược là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, trọng tâm là phát triển dược phẩm công nghệ cao nhằm đảm bảo an ninh thuốc và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Chính phủ cũng đặt mục tiêu đưa ngành dược Việt Nam tiệm cận trình độ các nước tiên tiến trong khu vực, với định hướng sản xuất thuốc biệt dược gốc và thuốc công nghệ cao.
Từ vị thế dẫn đầu khu vực, Việt Nam tiếp tục hành trình đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: ‘Nước ta hiện đang ở đâu trên bản đồ dược phẩm toàn cầu?’.
Theo đánh giá của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam đang ở cấp độ trên 3 trong tổng số 4 cấp độ về phát triển ngành dược. Vị trí này cho thấy Việt Nam đã chủ động được thuốc generic và có xuất khẩu thuốc. Cụ thể, Việt Nam đã có năng lực sản xuất phần lớn các loại thuốc generic thiết yếu, đáp ứng khoảng 46% về giá trị. Đây là nền tảng quan trọng để ngành dược chuyển mình từ sản xuất thuốc generic sang phát triển các loại thuốc biệt dược gốc, vắc xin, sinh phẩm và dược phẩm công nghệ cao – những lĩnh vực đòi hỏi trình độ nghiên cứu và công nghệ sản xuất cao hơn.
Trên thực tế, khi Chính phủ xác định rõ tầm nhìn và ưu tiên phát triển dược phẩm công nghệ cao, các doanh nghiệp trong nước cũng đã nhanh chóng vào cuộc. Nhiều đơn vị đã chủ động nâng cấp hệ thống sản xuất, xây dựng nhà máy đạt tiêu chuẩn quốc tế như EU-GMP, nhằm tăng khả năng cạnh tranh với thuốc ngoại nhập và mở rộng thị trường xuất khẩu.
Theo số liệu từ Cục Quản lý Dược, tính đến tháng 4/2025, Việt Nam đã có 294 nhà máy sản xuất đạt chuẩn GMP-WHO và 28 cơ sở sở hữu dây chuyền sản xuất đạt tiêu chuẩn EU-GMP hoặc tương đương. Đây là những con số thể hiện rõ nỗ lực chuyển mình mạnh mẽ của ngành dược trong nước trên hành trình vươn ra thị trường quốc tế.
Nhiều báo cáo dự báo rằng ngành dược sẽ tăng trưởng mạnh mẽ dựa trên những yếu tố như dân số đông, tốc độ già hóa nhanh và mức sống ngày càng được cải thiện. Những yếu tố này đang thúc đẩy nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng, đặc biệt là với các sản phẩm dược phẩm chất lượng cao và chuyên biệt.
Tuy nhiên, bên cạnh cơ hội, vẫn còn đó thách thức như Việt Nam được dự báo sẽ chính thức bước vào giai đoạn dân số già từ năm 2036. Quá trình già hóa không chỉ tạo áp lực lớn lên hệ thống y tế, mà còn đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với ngành dược trong việc phát triển các nhóm thuốc điều trị bệnh mãn tính, không lây nhiễm – vốn đang ngày càng phổ biến như tim mạch, ung thư, đái tháo đường, bệnh phổi mạn tính hay rối loạn tâm thần.
Đây là những lĩnh vực mà ngành dược nội địa cần giữ vai trò chủ lực – nhằm bảo đảm nguồn cung thuốc ổn định, nâng cao khả năng tiếp cận thuốc cho người dân với chất lượng tương đương hàng nhập khẩu nhưng có giá cả hợp lý hơn.
Để hiện thực hóa mục tiêu này, ngành dược Việt Nam cần tăng cường năng lực nghiên cứu, thử nghiệm lâm sàng, phát triển thuốc mới, thúc đẩy ứng dụng công nghệ cao và trí tuệ nhân tạo (AI) trong sản xuất và quản lý. Đồng thời, xây dựng môi trường pháp lý minh bạch, ổn định và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư có chiều sâu cho R&D.
Mới đây, trong tháng 5/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 68-NQ/TW về Phát triển kinh tế tư nhân, trong đó khuyến khích các doanh nghiệp phát triển khoa học công nghệ, chuyển đổi số. Đặc biệt, Nghị quyết 68-NQ/TW cho phép doanh nghiệp được tính gấp đôi (200%) chi phí R&D thực tế vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp.
Cùng với Nghị quyết 68-NQ/TW về Phát triển kinh tế tư nhân, Luật Dược sửa đổi dự kiến có hiệu lực từ tháng 7/2025 sẽ ưu tiên đấu thầu cho thuốc nội đạt chuẩn EU-GMP, thúc đẩy đầu tư vào R&D, đơn giản hóa thủ tục đăng ký thuốc, và rút ngắn thời gian cấp phép cho các sản phẩm chất lượng cao.
Với các lực đẩy từ chính sách của Chính phủ, nhiều doanh nghiệp ngành dược đã nhanh nhạy thích ứng. Imexpharm là một trong những doanh nghiệp như thế khi có chiến lược rõ ràng và phản ứng nhanh nhạy với xu hướng thị trường, xu hướng bệnh tật mới và định hướng chính sách.
Hiện nay, Imexpharm là công ty sở hữu 3 cụm nhà máy EU-GMP và 12 dây chuyền sản xuất EU-GMP liên tục gia tăng đầu tư chiều sâu vào R&D, với mức chi trung bình tăng khoảng 6% mỗi năm và duy trì khoảng 100 dự án nghiên cứu thường xuyên. Không dừng lại ở nội lực, đầu năm 2024, Imexpharm còn hợp tác với Genuone Sciences Inc, tập đoàn dược phẩm nổi tiếng hàng đầu đến từ Hàn Quốc, nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ tiên tiến, giúp công ty có thể độc lập sản xuất và quản lý các loại thuốc biệt dược chất lượng cao với chi phí hợp lý, giúp giảm gánh nặng tài chính cho người bệnh và đồng thời đảm bảo khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho tất cả mọi người.
Ứng dụng công nghệ tiên tiến và đầu tư chiều sâu vào R&D, Imexpharm kiên định với mục tiêu tạo ra các giá trị thiết thực cho người bệnh, mang đến giải pháp điều trị chất lượng cao, dễ tiếp cận hơn cho người Việt. Việc ra mắt 24 sản phẩm mới trong năm 2024 – trong đó 50% là thuốc tiêm sản xuất trên dây chuyền EU-GMP – cùng việc sở hữu nhà máy kháng sinh Betalactam cả tiêm và uống đạt chuẩn EU-GMP duy nhất tại Việt Nam, hay dẫn đầu với 25 thuốc có dữ liệu tương đương sinh học (BE), đều hướng đến một điều cốt lõi: giúp người bệnh tiếp cận thuốc tốt hơn, hiệu quả hơn, với chi phí hợp lý hơn, đặc biệt trong bối cảnh xã hội đang đối mặt với nhiều thách thức sức khỏe mới.
Song song với đó, nhằm góp phần phát triển hạ tầng ngành dược trong nước, cụ thể là làn song phát triển các khu công nghiệp dược trên cả nước, Imexpharm đang triển khai xây dựng Tổ hợp Nhà máy Dược phẩm Cát Khánh tại tỉnh Đồng Tháp trên diện tích 9.7 ha. Với công suất thiết kế dự kiến trung bình lên đến 1.4 tỷ đơn vị sản phẩm/năm kể từ khi hoàn tất, vận hành toàn bộ dự án (công suất thực tế theo từng giai đoạn), đây sẽ là thành trung tâm sản xuất dược phẩm giá trị cao, công nghệ cao như “first generic”, thuốc sinh học tương đương và các dạng bào chế phức tạp.
Nhìn từ kinh nghiệm của các quốc gia có ngành dược phát triển, việc Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng vào thị trường toàn cầu cùng với sự mở cửa thu hút đầu tư nước ngoài đã tạo nên nhiều cơ hội quan trọng.
Với những trăn trở với sự phát triển ngành Dược trong tương lai, Lãnh đạo của Imexpharm cho biết Việt Nam nên tận dụng tối đa lợi thế là người đi sau, tiếp nhận và ứng dụng những công nghệ sản xuất hiện đại, tiên tiến nhất tránh việc tiếp thu các công nghệ lỗi thời gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và lãng phí nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Bên cạnh đó, việc hạn chế đầu tư xây dựng các nhà máy sản xuất những sản phẩm hoặc công nghệ mà các doanh nghiệp trong nước đã làm chủ là rất cần thiết. Điều này không chỉ giúp tránh trùng lắp, mà còn góp phần củng cố chiến lược an ninh y tế quốc gia, bởi chỉ khi sản xuất tại địa phương và do doanh nghiệp nội địa thực hiện mới đảm bảo được tính chủ động, nhất là trong những tình huống khẩn cấp.
Ngoài ra, sự hợp tác chặt chẽ giữa Chính phủ và doanh nghiệp là hết sức cần thiết để đảm bảo rằng trong những tình huống y tế khẩn cấp, đất nước vẫn có khả năng chủ động duy trì nguồn cung thuốc, ngay cả khi lợi nhuận không phải là ưu tiên hàng đầu. Đây chính là nền tảng vững chắc bảo vệ sức khỏe cộng đồng và giữ gìn an ninh y tế quốc gia.
Việt Nam đang giữ vị thế hàng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê Robusta, nhưng lợi thế về sản lượng chưa chuyển hóa tương xứng thành quyền lực và giá trị trong chuỗi toàn cầu. Muốn thoát khỏi vị thế chủ yếu cung cấp nguyên liệu, ngành cà phê phải tăng liên kết, minh bạch dữ liệu, nâng chuẩn chất lượng, phát triển chế biến sâu và xây dựng thương hiệu để từng bước tham gia định hình cuộc chơi.
Thị trường đang được thúc đẩy bởi những tiến bộ công nghệ và nhận thức ngày càng cao của người tiêu dùng về sức khỏe và thể chất. Khi ngành công nghiệp này tiếp tục đổi mới, đồng hồ thông minh được kỳ vọng sẽ đóng vai trò then chốt trong việc định hình tương lai của công nghệ thiết bị đeo...
Để làm rõ vấn đề này, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy giới thiệu ý kiến của đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia và doanh nghiệp về thực trạng, triển vọng nhu cầu nhà ở của người nước ngoài tại Việt Nam; những vướng mắc trong quá trình thực thi chính sách; đồng thời đề xuất giải pháp phát triển nguồn cung phù hợp, minh bạch hóa thông tin và tăng cường kết nối cung - cầu…
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), cho rằng rào cản lớn đối với doanh nghiệp Việt Nam không chỉ là đáp ứng tiêu chuẩn của khối FDI, mà còn nằm ở mạng lưới cung ứng sẵn có của các tập đoàn này. Do đó cần có sự cởi mở hơn từ doanh nghiệp FDI và thay đổi cách tiếp cận trong hỗ trợ nhà cung ứng trong nước, qua đó thúc đẩy kết nối và phát triển chuỗi cung ứng tại Việt Nam.
Trả lời phỏng vấn báo chí bên lề hội thảo “Nhà ở cho người nước ngoài sống và làm việc tại Thành phố Bắc Ninh” do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy phối hợp với Ủy ban Nhân dân Thành phố Bắc Ninh tổ chức mới đây, ông Phạm Văn Thịnh, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Thành phố Bắc Ninh, cho biết cùng với quá trình thu hút đầu tư và mở rộng sản xuất, nhu cầu nhà ở của chuyên gia, nhà quản lý và người lao động nước ngoài tại địa phương ngày càng gia tăng.
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Năm 2027, tổng nguồn cung đất san lấp, đá và cát xây dựng tại Thanh Hóa dự kiến đạt hơn 42 triệu m3. Việc đưa thêm các mỏ vào khai thác, kết hợp nguồn vật liệu từ các dự án thu hồi khoáng sản và sản xuất cát nhân tạo được kỳ vọng góp phần giảm áp lực thiếu hụt vật liệu phục vụ các công trình, dự án trên địa bàn.