Tại Diễn đàn Thương mại điện tử xuyên biên giới (VOIEF 2026) với chủ đề “Những tác động từ chuyển đổi số trong lĩnh vực hải quan”, ngày 8/10/2026, bà Lại Việt Anh, Phó Cục trưởng Cục Thương mại Điện tử và Kinh tế số (Bộ Công Thương), khẳng định trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ, bán hàng qua nền tảng số không còn là xu hướng nhất thời mà trở thành một phần của hạ tầng thương mại mới, tạo động lực lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu.
Tuy nhiên, xuất khẩu qua thương mại điện tử không chỉ đơn giản là đưa sản phẩm lên một nền tảng thương mại điện tử bán hàng, để thành công doanh nghiệp cần phải hiểu thị trường, phải đáp ứng tiêu chuẩn, xây dựng thương hiệu, làm nội dung số, tổ chức thanh toán, logistics, bảo hiểm, chăm sóc khách hàng, xử lý dữ liệu và quan trọng nhất là phải tuân thủ các quy định của cả thị trường Việt Nam cũng như thị trường nhập khẩu.
Nhìn lại kênh xuất khẩu truyền thống, bà Trần Thủy Tiên, Phòng Thương mại điện tử xuyên biên giới (Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số), cho rằng kênh này đang bộc lộ nhiều hạn chế. Đi qua quá nhiều khâu trung gian, từ nhà máy xuất khẩu, nhập khẩu, bán sỉ, bán lẻ cho đến người tiêu dùng… Hầu hết doanh nghiệp Việt Nam mới dừng lại ở khâu sản xuất, chưa tiếp cận trực tiếp người tiêu dùng cuối cùng, chưa nắm bắt được dữ liệu thị trường.
Trong khi đó, thương mại điện tử xuyên biên giới nhanh chóng thâm nhập và trở thành động lực lớn giúp rút ngắn chuỗi cung ứng. Đây cũng là cơ hội cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ (vốn khó xuất khẩu qua kênh truyền thống) vươn ra thị trường toàn cầu.
Theo đại diện Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số, dư địa phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới của Việt Nam còn rất lớn. Năm 2025, tỷ trọng xuất khẩu qua thương mại điện tử mới chỉ đạt 0,48% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Hàng loạt ngành hàng như dệt may, giày dép, sản phẩm chăm sóc cá nhân có dư địa phát triển trực tuyến từ 80% - 99%.
Đồng quan điểm, bà Trịnh Thị Thu Hiền, Phó Cục trưởng Cục Xuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), nhận định kim ngạch xuất nhập khẩu qua nền tảng thương mại điện tử hiện mới đạt khoảng 4,4 tỷ USD trên tổng số 930 tỷ USD năm 2025, đây là con số còn rất khiêm tốn. Điều này cho thấy tiềm năng tăng trưởng phía trước còn rất lớn.
Mặt khác, các mặt hàng xuất khẩu qua thương mại điện tử hiện vẫn bó hẹp trong một số ngành hàng tiêu dùng nhất định, chưa phủ rộng sang các sản phẩm công nghiệp chế biến hay nông sản chế biến sâu. Đồng thời, thị trường tiếp cận chủ yếu vẫn quanh quẩn ở các quốc gia lân cận do vướng mắc về chi phí và thủ tục vận tải xa.
Ở góc độ doanh nghiệp, ông Trần Đình Toản, Trưởng ban Thương mại điện tử xuyên biên giới, Hiệp hội Thương mại Điện tử Việt Nam (VECOM), nhận định thách thức lớn nhất khi xuất khẩu xuyên biên giới nằm ở năng lực số của doanh nghiệp. Dù đa số đều nhận thức được tầm quan trọng của kênh trực tuyến, nhưng số lượng doanh nghiệp đầu tư bài bản, dài hạn và có kế hoạch trọng tâm rất ít, dẫn đến kết quả kinh doanh chưa đạt kỳ vọng và tạo ra vòng lẩn quẩn thiếu tự tin trong đầu tư.
Bên cạnh đó, các vấn đề về quản trị dữ liệu, tuân thủ pháp lý và thiếu hụt nguồn nhân lực logistics chuyên sâu cũng đang là những điểm nghẽn kìm hãm đà bứt phá của doanh nghiệp nội địa.
Để thương mại điện tử xuyên biên giới thực sự trở thành động lực mới cho xuất khẩu, bà Lại Việt Anh cho rằng cần xây dựng được một hệ sinh thái xuất khẩu số mạnh. Trong hệ sinh thái đó, cơ quan quản lý đóng vai trò tạo dựng thể chế và hạ tầng; cơ quan xúc tiến thương mại mở rộng thị trường; cơ quan hải quan tạo thuận lợi cho dòng hàng hóa; các nền tảng cung cấp công cụ tiếp cận người mua; các doanh nghiệp logistics, thanh toán, bảo hiểm… bảo đảm cho giao diện được thực hiện thông suốt.
Đại diện Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số cũng khuyến nghị dư địa thị trường không thể tự chuyển hóa thành kim ngạch nếu thiếu sự chung tay của một hệ sinh thái gồm: cơ quan nhà nước, hiệp hội và đặc biệt là doanh nghiệp. Đồng thời bà cũng chỉ rõ 5 yếu tố cốt lõi ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái thương mại điện tử hiện nay đòi hỏi doanh nghiệp cần nắm rõ, bao gồm: Pháp lý và chính sách của thị trường mục tiêu; xác định nền tảng phù hợp (Alibaba, Taobao, TikTok Shop, Shopee...) định danh người bán và khai thác dữ liệu người tiêu dùng; thanh toán xuyên biên giới; logistics và hải quan; năng lực doanh nghiệp, đây là yếu tố quan trọng nhất.
"Doanh nghiệp phải có đủ năng lực mới có thể vận hành và kết nối các yếu tố trên. Để một sản phẩm Việt Nam đến được tay người tiêu dùng nước ngoài, cần sự phối hợp đồng bộ của cả 5 mắt xích trong hệ sinh thái”, bà Tiên nhấn mạnh.
Theo ông Trần Minh Thắng, Trưởng phòng, Phòng Chính sách xúc tiến thương mại, Cục xúc tiến thương mại, hành trình từ thị trường Việt Nam ra thế giới của doanh nghiệp bắt đầu từ ba câu hỏi: cạnh tranh bằng điều gì? khách hàng ở đâu đang cần điều đó? và ai sẽ đồng hành cùng mình triển khai?
Đến khi bước vào thị trường mới, doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào thành công trong nước, mà cần trả lời các câu hỏi nền tảng trước khi đầu tư: Khách hàng ở thị trường đó đang có nhu cầu gì và đang dùng giải pháp nào để đáp ứng, vì sao họ rời bỏ lựa chọn hiện tại để đến với sản phẩm của mình, phản hồi đơn hàng và mức độ hài lòng tại thị trường đích phải kiểm chứng được lợi thế…
Để triển khai hiệu quả hệ sinh thái xuất khẩu số, đại diện các cơ quan quản lý đưa ra nhiều kiến nghị thiết thực đối với từng nhóm chủ thể. Đối với doanh nghiệp xuất khẩu và chủ sở hữu thương hiệu, cần xác định Go Global là quá trình đầu tư dài hạn, chủ động bố trí nguồn lực, ngân sách và nhân sự; tích cực đánh giá độ sẵn sàng, chuẩn hóa chất lượng, bao bì và xây dựng thương hiệu bài bản.
Đối với các sàn thương mại điện tử và nhà cung cấp giải pháp, cần tham gia tích cực vào mạng lưới đối tác của chương trình Go Global, xây dựng các gói ưu đãi về phí, hỗ trợ kỹ thuật và chia sẻ dữ liệu về xu hướng tiêu dùng, hành vi khách hàng quốc tế.
Với doanh nghiệp logistics, ngân hàng và thanh toán, cần thiết kế các gói dịch vụ liên kết đồng bộ, tối ưu hóa chi phí vận chuyển, cung cấp giải pháp thanh toán, tín dụng, bảo hiểm và hỗ trợ xử lý tranh chấp cho doanh nghiệp xuất khẩu trực tuyến.
Còn với các doanh nghiệp đã xuất khẩu thành công, cần phát huy vai trò dẫn dắt, tham gia tư vấn, chia sẻ kinh nghiệm vận hành gian hàng, quản trị đơn hàng và chăm sóc khách hàng để đồng hành cùng các doanh nghiệp mới bắt đầu.
Trước nguy cơ El Nino tiếp tục duy trì cường độ mạnh trong những tháng cuối năm 2026 và đầu năm 2027, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương chủ động triển khai các giải pháp phòng, chống hạn hán, thiếu nước, xâm nhập mặn, cháy rừng và các loại hình thiên tai bất thường...
Sức ép cộng hưởng từ biến động tỷ giá, lãi suất và giá năng lượng đang đặt các doanh nghiệp trước những thách thức lớn. Để vượt qua và tạo đà cho năm 2027, sự chủ động quản trị rủi ro từ nội lực doanh nghiệp, kết hợp cùng các giải pháp khai thông thể chế từ Chính phủ và sự đồng hành của hệ thống tài chính là chìa khóa then chốt giúp nền kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng bền vững...
Sau 10 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Hà Tĩnh đạt hơn 1,59 tỷ USD, giảm 1,58% so với cùng kỳ và mới đạt 72,3% kế hoạch cả năm. Khi thời gian của năm không còn nhiều, việc phụ thuộc lớn vào mặt hàng thép cùng những biến động bất lợi từ thương mại toàn cầu đang tạo sức ép mục tiêu xuất khẩu 2,2 tỷ USD...
Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc vừa chính thức ký ban hành Quyết định 2069/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình “Hàng Việt vì người Việt” giai đoạn 2026 - 2030, mở ra một tầm nhìn toàn diện cho việc củng cố sức mạnh của sản phẩm trong nước...
10 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam chính thức cán mốc kỷ lục 1.010,6 tỷ USD. Đây là cơ sở quan trọng để Bộ Công Thương hoàn thiện Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu giai đoạn mới, hướng tới đưa Việt Nam vào tốp 10 quốc gia thương mại hàng đầu thế giới...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Năm 2027, tổng nguồn cung đất san lấp, đá và cát xây dựng tại Thanh Hóa dự kiến đạt hơn 42 triệu m3. Việc đưa thêm các mỏ vào khai thác, kết hợp nguồn vật liệu từ các dự án thu hồi khoáng sản và sản xuất cát nhân tạo được kỳ vọng góp phần giảm áp lực thiếu hụt vật liệu phục vụ các công trình, dự án trên địa bàn.