Tại Phiên họp thứ 6 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội diễn ra vào chiều 24/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông tin và cho ý kiến về dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Theo đó, dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) sẽ được Quốc hội xem xét lần đầu tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2026) và xem xét thông qua tại Kỳ họp thứ 3 (tháng 05/2027).
Đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi), tại Hội thảo, các đại biểu đều cho rằng Luật An toàn thực phẩm cần tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý, công bố sản phẩm, truy xuất nguồn gốc và phân định trách nhiệm giữa các chủ thể trong chuỗi cung ứng thực phẩm, hướng tới bảo vệ sức khỏe người dân, đồng thời tạo môi trường sản xuất, kinh doanh minh bạch, khả thi.
Phát biểu khai mạc hội thảo, GS.TS Trương Xuân Lam, Phó Chủ tịch LHHVN, nhấn mạnh An toàn thực phẩm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng, chất lượng cuộc sống của Nhân dân và sự phát triển bền vững của đất nước. Trong bối cảnh phương thức sản xuất, kinh doanh thực phẩm ngày càng đa dạng, thương mại điện tử phát triển và công nghệ chế biến, bảo quản, phân phối không ngừng đổi mới, việc sửa đổi Luật An toàn thực phẩm năm 2010 là yêu cầu cần thiết nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý.
Để góp ý hoàn thiện luật, GS.TS Lam cho rằng, cần hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát và hậu kiểm an toàn thực phẩm, tăng cường năng lực phát hiện, cảnh báo và xử lý nguy cơ, bảo đảm việc kiểm soát thực phẩm được thực hiện thực chất trong suốt quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng, phân bổ nguồn lực kiểm tra phù hợp với mức độ rủi ro của từng nhóm sản phẩm. Đồng thời, hoàn thiện cơ chế quản lý, công bố và kiểm soát chất lượng sản phẩm thực phẩm, tăng cường truy xuất nguồn gốc và chuyển đổi số trong quản lý an toàn thực phẩm.
Bên cạnh đó, cần thúc đẩy kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý và các chủ thể trong chuỗi cung ứng; từng bước hình thành hệ thống thông tin đồng bộ, minh bạch, hỗ trợ giám sát, cảnh báo sớm, thu hồi sản phẩm không bảo đảm an toàn và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Ngoài ra, cần phân định rõ trách nhiệm và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan quản lý. Việc xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan, từng cấp quản lý và từng chủ thể trong chuỗi cung ứng là điều kiện quan trọng để khắc phục tình trạng chồng chéo, nâng cao hiệu quả phối hợp và bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thực hiện pháp luật.
Để nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp và các chủ thể tham gia chuỗi thực phẩm, cần kết hợp hiệu quả giữa trách nhiệm tự kiểm soát của cơ sở sản xuất, kinh doanh với hoạt động giám sát của cơ quan nhà nước, đồng thời chú trọng công tác kiểm nghiệm, đánh giá nguy cơ, cảnh báo, truyền thông
Từ góc độ tư vấn, phản biện, GS.TS Lam nhấn mạnh vai trò của chuyên gia, nhà khoa học trong việc cung cấp bằng chứng khoa học, kinh nghiệm thực tiễn, giúp cơ quan soạn thảo và thẩm tra nhận diện đầy đủ nguy cơ, đánh giá tác động chính sách và lựa chọn giải pháp phù hợp…
Ông Nguyễn Văn Nhiên, Phó Chủ tịch Hội An toàn thực phẩm Việt Nam, cũng đồng ý rằng Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) phải hoàn thiện cơ chế quản lý, công bố và kiểm soát chất lượng sản phẩm thực phẩm. Quy định pháp luật phải vừa bảo đảm yêu cầu an toàn, vừa phù hợp với đặc tính của từng nhóm sản phẩm, mức độ rủi ro, thông lệ quốc tế và điều kiện thực tế của Việt Nam. Việc hạn chế những thủ tục không cần thiết cần đi đôi với duy trì đầy đủ trách nhiệm bảo đảm an toàn thực phẩm của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh.
Theo ông Nhiên, việc cần phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của từng cơ quan, từng cấp quản lý và từng chủ thể trong chuỗi cung ứng. Đây là điều kiện quan trọng để hạn chế chồng chéo, nâng cao hiệu quả phối hợp và bảo đảm tính thống nhất trong tổ chức thực hiện pháp luật.
Bên cạnh trách nhiệm quản lý nhà nước, cần phát huy trách nhiệm tự kiểm soát của cơ sở sản xuất, kinh doanh, cùng với việc chú trọng kiểm nghiệm, đánh giá nguy cơ, cảnh báo và truyền thông, giáo dục kiến thức an toàn thực phẩm cho cộng đồng.
Đại diện doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu và phân phối nguyên liệu thực phẩm, ông Huỳnh Minh Quang, Giám đốc Khối An toàn, sức khỏe, môi trường và chất lượng thuộc Tập đoàn Nguyên liệu Á Châu đề xuất hoàn thiện Luật theo ba nguyên tắc: quản lý dựa trên nguy cơ, trách nhiệm tương xứng với khả năng kiểm soát và quản lý dựa trên dữ liệu, bằng chứng.
Ông Quang cho rằng cần phân biệt rõ giữa an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm và thông tin công bố, ghi nhãn. An toàn thực phẩm liên quan đến nguy cơ gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng; chất lượng phản ánh đặc tính hoặc tiêu chuẩn đã công bố; trong khi thông tin liên quan đến tính trung thực của công bố và ghi nhãn.
Theo đó, sai lệch về chất lượng không mặc nhiên đồng nghĩa với mất an toàn thực phẩm. Việc phân loại và xử lý cần căn cứ vào bản chất, mức độ vi phạm, nguy cơ nội tại, mức độ phơi nhiễm, đối tượng sử dụng, công dụng và lịch sử kiểm soát. Đối với những sản phẩm có đặc tính giao thoa, cần có hướng dẫn phân loại rõ ràng, khách quan để bảo đảm tính nhất quán khi thực thi.
Trong khi đó, bà Trần Ngọc Ánh, Giám đốc đối ngoại của Công ty Danone Việt Nam nêu lên 9 nhóm vấn đề: mở rộng đăng ký từ 4 lên 5 nhóm thực phẩm đặt ra nguy cơ gia tăng chi phí và quá tải thẩm định; Thủ tục cấp phép kéo dài làm tăng chi phí, gián đoạn chuỗi cung ứng và kìm hãm đổi mới sản phẩm; Quy định chuyển tiếp và gánh nặng nghiên cứu độ ổn định đối với thực phẩm; Kiểm tra thực phẩm nhập khẩu: nguy cơ kéo dài thông quan, ùn tắc tại cảng và gia tăng chi phí; Phê duyệt quốc gia và cơ sở sản xuất nước ngoài: nguy cơ tạo thêm rào cản thương mại; Bảo đảm quyền tự đánh giá sự phù hợp, tránh phát sinh thủ tục và chi phí không cần thiết; Bắt buộc tăng cường vi chất phải có căn cứ khoa học, tránh dư thừa và thay đổi công thức không cần thiết; Chuyển tiếp về ghi nhãn phải cho phép sử dụng bao bì hợp pháp và bổ sung thông tin linh hoạt; và định nghĩa sản phẩm phải đúng bản chất khoa học, tránh phân loại sai và phát sinh thủ tục.
Theo đó, đại diện Danone Việt Nam kiến nghị Quốc hội, Chính phủ và cơ quan soạn thảo tập trung vào ba nội dung.
Thứ nhất, quản lý dựa trên nguy cơ và bằng chứng khoa học; loại bỏ thủ tục chưa chứng minh được sự cần thiết.
Mỗi yêu cầu đăng ký, phê duyệt, kiểm nghiệm hoặc thay đổi sản phẩm phải chứng minh được lợi ích bảo vệ sức khỏe tương xứng. Đề nghị bỏ yêu cầu báo cáo nghiên cứu độ ổn định trong hồ sơ đăng ký thực phẩm và loại bỏ thủ tục trùng lặp; đồng thời tăng cường hậu kiểm theo nguy cơ, truy xuất nguồn gốc, cảnh báo sớm và xử lý nghiêm vi phạm.
Thứ hai, bảo đảm pháp luật thống nhất, thủ tục minh bạch và cơ quan thực thi có trách nhiệm giải trình.
Các quy định phải bảo đảm quyền tự đánh giá sự phù hợp trong những trường hợp pháp luật cho phép, gắn với trách nhiệm của doanh nghiệp và phù hợp với cam kết quốc tế.
Cần rút ngắn thời gian đăng ký và quy định thời hạn giải quyết tối đa cho toàn bộ thủ tục, làm rõ tiêu chí thẩm định, căn cứ yêu cầu bổ sung và cơ chế xử lý hồ sơ quá hạn; đồng thời giám sát việc thực thi, kiểm soát xung đột lợi ích và phòng ngừa nhũng nhiễu.
Thứ ba, đánh giá đầy đủ tác động và bảo đảm chuỗi cung ứng không bị gián đoạn bởi thủ tục hành chính.
Trước khi mở rộng nghĩa vụ, cần lượng hóa chi phí tuân thủ, năng lực xử lý hồ sơ và kiểm nghiệm, nguy cơ ùn tắc, giảm hạn sử dụng và thiếu hụt nguồn cung.
Chuyển tiếp cần phù hợp chu kỳ sản xuất, nhập khẩu; bảo đảm doanh nghiệp nộp đầy đủ hồ sơ đúng hạn được tiếp tục kinh doanh khi chờ giải quyết, trừ trường hợp có căn cứ xử lý về an toàn thực phẩm. Cho phép tiếp tục sử dụng bao bì và hàng hóa hợp pháp, tránh lãng phí.
Tại Hội thảo, các đại biểu nhất trí cho rằng, các cơ quan hữu quan cần thực hiện tham vấn đầy đủ với doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu, phân phối, chủ sở hữu nhãn hàng và tổ chức được ủy quyền. Các văn bản hướng dẫn về phân loại, công bố sản phẩm, dữ liệu và hậu kiểm cần được xây dựng, lấy ý kiến sớm.
Đồng thời, cần có lộ trình chuyển tiếp hợp lý đối với hồ sơ hiện hữu, sản phẩm đang lưu hành, nhãn bao bì, dữ liệu, hợp đồng và thỏa thuận ủy quyền. Các ý kiến tại hội thảo sẽ được Liên hiệp hội Việt Nam tổng hợp đầy đủ, xây dựng báo cáo gửi tới các cơ quan có thẩm quyền để xem xét trong quá trình chỉnh lý, hoàn thiện Dự thảo Luật trước khi trình Quốc hội thông qua
Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), nợ của các "doanh nghiệp xác sống” hiện chiếm 21,4% tổng dư nợ doanh nghiệp tại 10 nền kinh tế châu Á, tăng gấp hơn hai lần so với năm 2008…
Từ ứng dụng giống mới, cơ giới hóa sản xuất đến sử dụng nền tảng số trong quảng bá, tiêu thụ nông sản, khoa học công nghệ đang mở ra nhiều cơ hội để nông dân Thanh Hóa đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao năng suất và giá trị nông sản. Tuy nhiên, để công nghệ thực sự phát huy hiệu quả trên đồng ruộng, người nông dân không chỉ cần vốn đầu tư mà còn phải có kiến thức, kỹ năng và khả năng tiếp cận những tiến bộ kỹ thuật phù hợp với điều kiện sản xuất thực tế…
Ngày 12/10/2026, Nhà máy Phân Bón Cà Mau chính thức mở cửa đón những đoàn khách đầu tiên của chương trình “Tham quan nhà máy – Gặt hái mùa vàng 2026”, khởi đầu chuỗi 7 đợt tham quan kéo dài đến cuối tháng 10.
Muốn thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao, không chỉ cần khu công nghiệp tốt, chính sách tốt, mà còn phải có môi trường sống đủ tốt để chuyên gia quốc tế yên tâm làm việc, gắn bó và đưa gia đình đến sinh sống…
Trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam được kỳ vọng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, bài toán không còn chỉ là đưa sản phẩm ra nước ngoài mà là xây dựng những thương hiệu được người tiêu dùng quốc tế tin tưởng và lựa chọn. Theo Tổng Công ty Cổ phần Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (SABECO), năng lực cạnh tranh toàn cầu bền vững cần được xây dựng từ chính nội lực doanh nghiệp và hệ sinh thái trong nước.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai thu hút gần 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt gần 80% kế hoạch năm, với dòng vốn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.