
Sự tăng trưởng kinh tế và bùng nổ dân số cùng với tốc độ đô thị hóa nhanh chóng của Việt Nam đã và đang làm gia tăng phát sinh lượng chất thải rắn sinh hoạt. Thống kê cho thấy, tổng khối lượng chất thải rắn sinh hoạt toàn quốc phát sinh là 67.983,73 tấn/ngày, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, vận chuyển, xử lý là 59.030,17 tấn/ngày.
Trong đó, tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được xử lý bằng chôn lấp chiếm tỷ lệ 64%; xử lý bằng phương pháp đốt có phát điện chiếm tỷ lệ 10,25%; xử lý bằng phương pháp đốt không phát điện chiếm tỷ lệ 9,6%; xử lý chất thải thực phẩm thành mùn/phân hữu cơ chiếm tỷ lệ 16,15% tổng khối lượng được thu gom, vận chuyển, xử lý.
Dự báo đến năm 2050, tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh dự kiến đạt 95.721 tấn/ngày (khoảng 34,96 triệu tấn/năm).
Từ thực tế hiện nay và nhu cầu các năm tiếp theo, Bộ Nông nghiêp và Môi trường cho rằng Việt Nam cần nguồn lực tài chính lớn đầu tư các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng công nghệ hiện đại hoặc chuyển đổi công công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt từ chôn lấp sang công nghệ sản xuất mùn/hữu cơ và xử lý chất thải rắn sinh hoạt kết hợp thu hồi năng lượng.
Theo quy định hiện nay có 3 hình thức đầu tư cho xử lý chất thải rắn sinh hoạt gồm: Nhà nước tự đầu tư thực hiện theo quy định của Luật Đầu tư công; Xã hội hóa theo quy định của Luật Đầu tư; Đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) theo quy định của Luật Đầu tư theo phương thức PPP.
Theo quy định của Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư PPP năm 2020, các dự án PPP trong lĩnh vực xử lý chất thải rắn sinh hoạt phải có mức đầu tư tối thiểu là 200 tỷ đồng.
Kể từ khi ban hành Luật PPP vào năm 2020, tính đến tháng 12/2023, hầu hết các dự án PPP trong lĩnh vực xử lý chất thải rắn sinh hoạt đều ở giai đoạn chuẩn bị dự án, trong đó có một số dự án PPP đã bắt đầu triển khai lập, phê duyệt báo cáo nghiên cứu tiền khả thi hoặc đang xây dựng Dự án theo hình thức PPP.
Ví dụ như: Dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn phát điện tại xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; Dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt tại phường Hòa Khánh Nam, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng; Dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt tập trung tại xã Trung Mỹ, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc; Dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng công nghệ đốt rác phát điện tại Đình Vũ, quận Hải An, Hải Phòng; Dự án Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt với công nghệ đốt rác phát điện tại Bình Định.
Tuy nhiên, đến nay chưa có Thông tư hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư (PPP) lĩnh vực xử lý chất thải rắn sinh hoạt.
Theo dự thảo Thông tư hướng dẫn một số nội dung trong hoạt động đầu tư theo phương thức đối tác công tư lĩnh vực xử lý chất thải rắn sinh hoạt đang được xây dựng, lấy ý kiến hoàn thiện gồm 20 Điều hướng dẫn chi tiết các nội dung tiêu chuẩn đánh giá về năng lực, kinh nghiệm; kỹ thuật của nhà đầu tư; tài chính- thương mại đối với phương pháp so sánh, xếp hạng dựa trên các tiêu chuẩn kết hợp…
Thông tư cung cấp hướng dẫn chi tiết và mẫu hợp đồng nhằm đảm bảo việc thực hiện các dự án PPP trong lĩnh vực chất thải rắn sinh hoạt được hiệu quả, minh bạch.
Dự thảo nêu rõ dự án PPP lĩnh vực chất thải rắn sinh hoạt là dự án đầu tư để cung cấp sản phẩm, dịch vụ công thông qua việc thực hiện một hoặc các hoạt động liên quan đến thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo quy định của Luật PPP. Điều kiện lựa chọn dự án để đầu tư theo phương thức PPP thực hiện theo quy định tại Luật PPP.
Việc lựa chọn dự án PPP có lợi thế so với các hình thức đầu tư khác thực hiện trên cơ sở phân tích, đánh giá khả năng thu hút nguồn vốn, công nghệ và kinh nghiệm quản lý của nhà đầu tư tư nhân. Hình thức đầu tư PPP cũng có chủ thể là khu vực công và khu vực tư, thực hiện hợp đồng đối tác trong thời gian dài.
Trách nhiệm quản lý và cung cấp dịch vụ thường được chia sẻ giữa nhà nước và tư nhân. Doanh nghiệp tư nhân thường tham gia trong việc đầu tư hạ tầng và cung cấp dịch vụ, trong khi nhà nước vẫn có vai trò quản lý và giám sát. Nhà nước và tư nhân sẽ cùng chia sẻ cả rủi ro và lợi ích trên cơ sở đồng thuận theo hợp đồng dự án. PPP yêu cầu sự cam kết của Nhà nước ở mức độ cao hơn, ngoài các ưu đãi, hỗ trợ, cơ chế bảo đảm đầu tư cũng được quy định trong hợp đồng để giảm thiểu rủi ro trong quá trình đầu tư…
Theo đánh giá của các chuyên gia, phương thức đối tác công- tư (PPP) trong lĩnh vực xử lý chất thải rắn được coi là một hướng đi triển vọng, nhờ nguồn lực dồi dào và sự năng động của khối tư nhân cùng tham gia cải thiện mạnh mẽ chất lượng môi trường đô thị.
Tăng cường hợp tác theo phương thức PPP để thêm kênh thu hút nguồn lực đầu tư các dự án trong lĩnh vực xử lý chất thải rắn sinh hoạt là cần thiết.
Nghiên cứu cho thấy chi tiêu công cho quản lý chất thải rắn tại Việt Nam chiếm khoảng 0,23% GDP và ngân sách nhà nước đang trang trải 75- 80% kinh phí chi thường xuyên cho hoạt động thu gom, vận chuyển, xử lý và 80% chi phí đầu tư xây dựng các cơ sở xử lý chất thải rắn sinh hoạt.
Trong khi nguồn kinh phí cho lĩnh vực quản lý chất thải rắn sinh hoạt chủ yếu được bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước vốn hạn hẹp thì việc thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân trong quản lý, xử lý chất thải rắn sinh hoạt có vai trò quan trọng, góp phần huy động nguồn lực tài chính, giảm bớt áp lực từ ngân sách nhà nước, đặc biệt là thông qua đầu tư các dự án xử lý chất thải rắn sinh hoạt theo hình thức đối tác công- tư (PPP).
Thay vì lựa chọn giữa đất nông nghiệp và điện mặt trời, mô hình nông nghiệp kết hợp điện mặt trời (agrivoltaics) cho phép cây trồng, vật nuôi và các tấm pin cùng tồn tại trên một diện tích đất, mở ra hướng đi mới cho sản xuất năng lượng và nông nghiệp trong bối cảnh biến đổi khí hậu…
Trong các lĩnh vực giao thông, đường bộ và giao thông đô thị ghi nhận mức độ chuyển đổi phương tiện điện rõ nét nhất, đặc biệt tại các đô thị lớn...
Ngành làm mát đang chuyển dịch theo hướng nâng cao hiệu suất năng lượng, sử dụng môi chất lạnh GWP thấp và quản lý toàn diện vòng đời thiết bị, hướng tới giảm phát thải và bảo vệ tầng ô-dôn…
Hàng chục ngàn ha đất công nghiệp đã hình thành đang được đặt vào một bài toán mới: không mở rộng quỹ đất bằng mọi giá mà nâng chất lượng những khu công nghiệp hiện hữu để tạo không gian cho công nghệ cao, sản xuất xanh và kinh tế tuần hoàn...
Chỉ trong chưa đầy hai năm, Bulgaria đã đưa công suất lưu trữ điện bằng pin lên gần một phần tư tổng công suất điện lắp đặt, nhờ dòng vốn gần 3 tỷ euro. Sự bùng nổ này đang biến Bulgaria thành một trung tâm lưu trữ năng lượng mới của khu vực, đồng thời đặt ra câu hỏi về tính bền vững của mô hình và tác động tới các nguồn điện truyền thống…
Việt Nam chiếm 3,6% năng lực sản xuất thiết bị và linh kiện điện tử toàn cầu, đứng thứ sáu thế giới. Trung Quốc dẫn đầu với 58,8%, cao hơn tổng tỷ trọng của tất cả nền kinh tế còn lại trong bảng xếp hạng...
Chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển, Việt Nam có lợi thế về sản xuất, logistics và mạng lưới các hiệp định thương mại FTA dày đặc. Tuy nhiên, để biến sự quan tâm của khách hàng quốc tế thành hợp đồng thực tế, thành “đơn hàng… là bài toán không hề đơn giản.