VnEconomy - Nhịp sống Kinh tế Việt Nam và Thế giới
Menu
VnEconomy
VnEconomy

Ông nhìn nhận như thế nào về vai trò của loại hình tài sản mới – tài sản mã hóa sau khi chính thức được “gọi mặt, đặt tên” trong Luật Công nghiệp công nghệ số có hiệu lực từ 1/1/2026 và Nghị quyết 05 về thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam, thưa ông?

Luật Công nghiệp công nghệ số xác lập hai đặc điểm quan trọng của tài sản số.

Đặc điểm thứ nhất, tài sản số được định nghĩa trên cơ sở tham chiếu Bộ luật Dân sự 2015, qua đó khẳng định tài sản số là một loại tài sản.

Đặc điểm thứ hai, dù có nhiều cách phân loại, về cơ bản tài sản số được phân theo hai tiêu chí chính: mục đích sử dụng và tính chất công nghệ.

Ở đặc điểm thứ nhất, việc khẳng định là tài sản theo Bộ luật Dân sự cho phép các hoạt động liên quan đến tài sản số được xem xét và điều chỉnh trong khuôn khổ pháp luật hiện hành mà chưa cần ban hành luật mới. Đây cũng là xu hướng lập pháp phổ biến của nhiều quốc gia khi tiếp cận loại tài sản này. Tất nhiên, đối với các hoạt động mang tính thị trường (phát hành, giao dịch, cung cấp dịch vụ…), mức độ “đi vào đời sống” vẫn phụ thuộc vào thiết kế quy định chuyên ngành và hướng dẫn triển khai cụ thể.

Ở đặc điểm thứ hai, cách phân loại tài sản mã hóa theo mục đích sử dụng và tính chất công nghệ mở ra hướng tiếp cận tiệm cận nhiều chuẩn mực và thông lệ quốc tế, phù hợp với hệ thống pháp luật Việt Nam, vừa bảo đảm vai trò quản lý nhà nước, vừa tạo dư địa thúc đẩy đổi mới sáng tạo.

Khi thực hiện phân loại, có thể thấy hệ sinh thái tài sản số rất đa dạng bao gồm: CBDC (tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương), RWA (token hóa tài sản thực), tài sản ảo, token chứng khoán… Mỗi loại có đặc điểm, vai trò riêng và trong thực tiễn có thể chồng lấn về mặt phân loại. Quá trình hình thành của từng loại tài sản cũng mang những đặc thù rất khác biệt.

Chẳng hạn, Bitcoin là một loại tài sản mã hóa không gắn với tài sản thực, nhưng lại giữ vai trò nền tảng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong không gian tài sản mã hóa. Xu hướng các quốc gia dự trữ Bitcoin nhằm tối ưu lợi ích kinh tế và thúc đẩy sự phát triển của lĩnh vực này đang được nhiều nền kinh tế lớn quan tâm. Riêng Hoa Kỳ đã có quyết định ở cấp hành pháp về việc thiết lập Quỹ Dự trữ Bitcoin chiến lược tại một số bang, trong khi nhiều quốc gia khác dù chưa chính thức về mặt hành pháp nhưng cũng đang nắm giữ lượng lớn Bitcoin một cách công khai.

Với cách tiếp cận như vậy, Luật Công nghiệp công nghệ số hướng tới đồng thời hai mục tiêu: quản lý và thúc đẩy sự phát triển của tài sản số nói chung, tài sản mã hóa nói riêng, phù hợp với pháp luật trong nước và bám sát xu hướng toàn cầu.

VnEconomy

Nguồn tài sản mới này nên được quản lý như thế nào, thưa ông?

Trong quản lý, Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm từ các mô hình đi trước như Hoa Kỳ, Các Tiểu vương quốc Arập Thống nhất (UAE), Hồng Kông, Thái Lan… Cần khẳng định rằng không tồn tại một mô hình quản trị chung phù hợp cho mọi quốc gia. Bên cạnh việc tuân thủ các tiêu chuẩn toàn cầu về phòng, chống rửa tiền của FATF, hay các khuyến nghị từ các tổ chức quốc tế khác như BIS, FSB, IMF,... mỗi quốc gia đều thiết kế khuôn khổ quản lý riêng phù hợp với đặc thù thị trường nội địa nhằm tối ưu nguồn lực và đáp ứng nhu cầu phát triển khác nhau.

Ví dụ, Hoa Kỳ ưu tiên thúc đẩy đổi mới sáng tạo, kết nối fintech với tài chính truyền thống nhưng đồng thời nhấn mạnh bảo vệ nhà đầu tư và kỷ luật thị trường; Singapore nhấn mạnh quản trị rủi ro và tuân thủ song hành đổi mới; Hồng Kông định vị mình như một trung tâm VA-VASP toàn cầu; còn UAE tận dụng khung pháp lý cởi mở để xây dựng khung cấp phép chuyên biệt, điển hình Dubai có VARA và bộ quy định quản lý hoạt động tài sản ảo nhằm thu hút doanh nghiệp quốc tế.

Đối với Việt Nam, việc ban hành các quy định thúc đẩy thị trường tài sản số gắn với RWA là một lựa chọn phù hợp và mang tính đón đầu. Cách tiếp cận này không chỉ giúp doanh nghiệp mở rộng kênh huy động vốn, gia tăng thanh khoản, mà còn tạo động lực đổi mới cho lĩnh vực fintech và tài chính truyền thống, đặc biệt tại các khu vực đang được ưu tiên phát triển như Trung tâm Tài chính quốc tế Đà Nẵng và TP.Hồ Chí Minh.

VnEconomy

Những quy định pháp lý mới nhất về tài sản số, tài sản mã hóa cùng với Chiến lược Blockchain quốc gia trước đó sẽ tác động như thế nào đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam?

Chiến lược Blockchain quốc gia được ban hành ngày 22/10/2024 đã được tiếp thêm động lực mạnh mẽ nhờ Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, Luật Công nghiệp công nghệ số, Danh mục Công nghệ chiến lược. Nói cách khác, Blockchain được kéo về đúng vị trí công nghệ hạ tầng trong chiến lược năng lực cạnh tranh quốc gia, chứ không chỉ là câu chuyện của một thị trường ngách.

Đối với thị trường tài sản số, Luật Công nghiệp công nghệ số và Nghị quyết 05/NQ-CP của Chính phủ về thí điểm thị trường tài sản mã hóa đang tạo ra khung nền ban đầu. Cùng với các cơ chế, chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo của Đà Nẵng và định hướng xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế tại Đà Nẵng và TP. Hồ Chí Minh đã tạo không gian pháp lý cho triển khai và thử nghiệm khá rộng mở. Cách tiếp cận này giúp Nhà nước vừa có dữ liệu thực tiễn để hoàn thiện luật về sau, vừa giảm rủi ro hệ thống trong giai đoạn đầu triển khai thí điểm.

Để chính sách đi vào thực tiễn vẫn cần thêm nhiều văn bản hướng dẫn cụ thể, đặc biệt là các chuẩn về cấp phép vận hành, công bố thông tin, kế toán, định giá tài sản cơ sở, thuế, bảo vệ nhà đầu tư, và tuân thủ AML/CFT... Tôi tin rằng tài sản mã hóa đang khởi đầu tích cực và sẽ sớm tạo ra tác động sâu rộng tới đời sống kinh tế - xã hội, tương tự những gì mà thị trường chứng khoán đã thể hiện cách đây 20 năm.

Chiến lược Blockchain quốc gia cũng đặt ra nhiều mục tiêu cụ thể tới năm 2030 như xây dựng 3 trung tâm ứng dụng thử nghiệm có kiểm soát về Blockchain, 20 doanh nghiệp - sản phẩm “Make in Việt Nam” và hạ tầng Blockchain quốc gia. Cùng với đó là các mục tiêu lồng ghép ứng dụng công nghệ này vào hoạt động của các lĩnh vực từ ngân hàng, văn hóa và du lịch tới nông nghiệp.

Công nghệ Blockchain được xác định là một công nghệ chiến lược, hạ tầng Blockchain được định vị là hạ tầng số dùng chung cho các dịch vụ công – tư, điển hình như ứng dụng truy xuất nguồn gốc tiền chất, hóa chất của Bộ Công an đang triển khai trên nền tảng định danh quốc gia VNeID.

Bên cạnh đó, nhiều ứng dụng tiêu biểu khác đang được triển khai tích cực trên Mạng dịch vụ đa chuỗi Blockchain Việt Nam (VBSN) do VBA khởi xướng, như: ChainTracer phục vụ truy vết các dự án có dấu hiệu rủi ro; bản đồ số thí điểm tại TP. Đà Nẵng; xác thực văn bằng, chứng chỉ tại Học viện Kỹ thuật Mật mã; định danh và xác thực phi tập trung (DID/VC) tại một số ngân hàng, tổ chức tài chính lớn; cùng nền tảng xác thực, đăng ký và quản lý quyền sở hữu trí tuệ.

VBA cũng liên tục ghi nhận sự quan tâm rõ nét từ các doanh nghiệp truyền thống và các định chế tài chính trong việc phối hợp đào tạo, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế về ứng dụng, triển khai Blockchain, từ cấp hội đồng quản trị, lãnh đạo cấp cao đến đội ngũ thực thi. Điều này cho thấy sự quan tâm đã chuyển từ giai đoạn tìm hiểu sang trạng thái sẵn sàng triển khai có chọn lọc, có trọng điểm.

VnEconomy

Như ông chia sẻ, tài sản số, công nghệ Blockchain sẽ tác động tới nhiều ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, vậy cụ thể sẽ tác động và mở ra những cơ hội như thế nào?

Nghị quyết 05/NQ-CP dự kiến cho phép tối đa 5 doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp có vốn điều lệ từ 10.000 tỷ đồng, tham gia thí điểm thành lập sàn giao dịch tài sản mã hóa tập trung. Tôi cho rằng nhóm doanh nghiệp này sẽ tạo ra những chuyển biến đáng kể, từ hoàn thiện hạ tầng giao dịch, thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao, đến hình thành một sân chơi mới cho nhà đầu tư và các tổ chức có nhu cầu huy động vốn thông qua RWA.

Thực tế cho thấy, trong khi dòng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam 2025 dự kiến cao kỷ lục nhưng cũng chỉ ở mức 35-38 tỷ USD, thì ở các khu vực tự phát, dòng vốn tài sản mã hóa cao gấp 4 lần, lên tới 220 tỷ USD (giai đoạn tháng 7/2024 - tháng 6/2025), theo Chainalysis.

Những con số này khẳng định nguồn lực và tiềm năng rất lớn của Việt Nam trong lĩnh vực này. Vấn đề then chốt là làm thế nào để chuyển dịch dòng vốn từ khu vực “kinh tế ngầm” sang khu vực chính thống, điều vốn phụ thuộc nhiều vào chính sách cụ thể, năng lực thực thi của cơ quan quản lý và cần thời gian để trả lời.

Dù vậy, ở thời điểm hiện tại, các chính sách về tài sản mã hóa đã cho thấy tác động tích cực, thể hiện qua việc hạn chế tình trạng lợi dụng công nghệ để huy động vốn đa cấp hoặc buôn bán tài sản mã hóa giả mạo (như Bitcoin, ETH…). Việc nhiều vụ việc xảy ra trước năm 2022 được điều tra hồi tố trong thời gian gần đây cho thấy khung pháp lý đang dần phát huy hiệu quả, đồng thời thể hiện sự quyết liệt của cơ quan quản lý trong việc củng cố niềm tin đối với thị trường tài chính Việt Nam nói chung.

VnEconomy

Đối với các doanh nghiệp, việc luật hóa tài sản số - dòng tài sản mới và công nghệ Blockchain sẽ hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp như thế nào, thưa ông?

Trước hết, phải khẳng định Blockchain có thể thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của các doanh nghiệp và tạo ra lợi ích rõ nhất với các ngành có yêu cầu cao về minh bạch dữ liệu và đối soát đa bên, điển hình là lĩnh vực tài chính, sau đó lan rộng ra nhiều lĩnh vực khác nhờ vào tính năng ghi nhận giao dịch bất biến và truy xuất lịch sử giao dịch một cách minh bạch và đáng tin cậy.

Trên thế giới, xu hướng số hóa tài sản và vận hành thị trường trên nền tảng token hóa đã đi vào giai đoạn triển khai thực tế, Quỹ token hóa tài sản (BUIDL) của BlackRock đã vượt mốc 1 tỷ USD giá trị tài sản quản lý, hay J.P. Morgan Asset Management vừa ra mắt quỹ thị trường tiền tệ được token hóa trên blockchain Ethereum công khai. Những ví dụ này cho thấy Blockchain đang được các định chế lớn sử dụng như một hạ tầng vận hành chứ không chỉ là thử nghiệm công nghệ.

Thử hình dung việc chuyển 1 USD từ Việt Nam sang Mỹ, thông thường sẽ phải giao dịch qua ngân hàng, nhưng thực tế việc thực hiện các giao dịch siêu nhỏ xuyên biên giới như thế này có khả thi không? Tất nhiên không vì chi phí thực hiện vượt quá giá trị giao dịch, nhưng Blockchain/tài sản số sẽ làm được. Thực tế, chi phí kiều hối trung bình toàn cầu vẫn ở mức đáng kể (khoảng 6,49%), cho thấy chi phí vẫn là bài toán hiện hữu khi chuyển giá trị xuyên biên giới, đặc biệt với các khoản nhỏ. Giao dịch ngân hàng có thể thực hiện 24/7 được hay không? Câu trả lời là có nhưng chỉ đối với các giao dịch nhỏ hoặc cá nhân (qua app ngân hàng), nhưng ở quy mô giao dịch lớn (ủy nhiệm chi doanh nghiệp) là không được. Còn Blockchain sẽ làm được với các giao dịch 24/7, chỉ cần có Internet. 

Tuy nhiên, Blockchain không phải là lời giải tối ưu cho mọi doanh nghiệp. Trước khi triển khai, mỗi doanh nghiệp cần trả lời rõ ràng các câu hỏi: việc ứng dụng Blockchain có giúp tăng doanh thu, giảm chi phí hay tối ưu quy trình quản trị hay không. Thực tế cho thấy không ít trường hợp áp dụng Blockchain chỉ như một công cụ marketing, nhằm nâng giá sản phẩm, thay vì tạo ra giá trị cốt lõi bền vững.

Về mặt bản chất, Blockchain sẽ phát huy hiệu quả cao nhất đối với các doanh nghiệp có mô hình hoạt động phân tán, quy mô đủ lớn, phạm vi xuyên biên giới hoặc toàn cầu.

Tôi cho rằng khi Luật Công nghiệp công nghệ số chính thức có hiệu lực, cùng với các nghị định và thông tư liên quan đến tài sản số và tài sản mã hóa được ban hành, Việt Nam sẽ hình thành nhiều nền tảng ứng dụng xuyên biên giới. Có thể kể đến token hóa tài sản thực (RWA), các mô hình xây dựng cộng đồng dựa trên token, ứng dụng NFT trong truyền tải văn hóa thông qua game, giải pháp fintech giúp ngân hàng tiếp cận thị trường quốc tế với chi phí thấp, cũng như các ứng dụng logistics và truy xuất nguồn gốc trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

VnEconomy

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 51-52-2025 phát hành ngày 22-29/12/2025. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://vneconomy.vn/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-5152-2025.htm

VnEconomy
Asko AI Platform

Askonomy AI

...

icon

Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?

Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính:

VnEconomy