Dựa trên dữ liệu từ báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới tháng 10/2026 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), đồ họa thông tin dưới đây xếp hạng 20 nền kinh tế có tỷ lệ nợ công cao nhất và 20 nền kinh tế có tỷ lệ thấp nhất thế giới năm 2026, chia theo 5 khu vực.
Tỷ lệ này so sánh tổng nợ công, gồm nợ của chính quyền trung ương và chính quyền bang/địa phương, với tổng sản phẩm trong nước (GDP). Bảng xếp hạng chỉ tính các nền kinh tế có dân số từ 1 triệu người trở lên.
Theo báo cáo, Sudan dẫn đầu bảng xếp hạng với tỷ lệ nợ công ước tính 334,4% GDP, bỏ xa mọi nền kinh tế còn lại. Nhật Bản đứng thứ hai với 199,4%, tiếp theo là Singapore với 166,4%.
Việc Singapore đứng thứ ba có thể gây bất ngờ. Khác với nhiều chính phủ nợ cao, Singapore sở hữu khối tài sản tài chính lớn bên cạnh các khoản nợ. Chính phủ nước này cũng chủ yếu dùng vốn vay để đầu tư và phát triển thị trường nợ trong nước, chứ không phải để chi tiêu thường xuyên.
IMF ước tính nợ công của Trung Quốc lần đầu vượt mốc 100% GDP, lên 104,4% trong năm nay. Diễn biến này xảy ra trong bối cảnh thị trường bất động sản suy thoái kéo dài và nợ của chính quyền địa phương ngày càng phình to.
So với Trung Quốc, Mỹ có tỷ lệ nợ còn cao hơn, ở mức 126,8% GDP. Chi phí trả lãi ròng của Chính phủ liên bang Mỹ được dự báo đạt 1 nghìn tỷ USD trong năm 2026 và sẽ tăng gấp hơn hai lần vào năm 2036.
Tại châu Âu, 5 nền kinh tế lớn có tỷ lệ nợ công vượt 100% GDP là Italy, Hy Lạp, Pháp, Bỉ và Anh. Italy dẫn đầu với 137,9%, một trong những mức cao nhất trong nhóm các nền kinh tế phát triển.
Ở chiều ngược lại, nhóm có tỷ lệ nợ công thấp nhất bao gồm một số nền kinh tế giàu có như Đan Mạch, Đài Loan và Hồng Kông.
Tỷ lệ nợ công của Đan Mạch chỉ ở mức 26,4% GDP, dù chi tiêu chính phủ của nước này tương đương khoảng 44% GDP. Nhờ thặng dư ngân sách 2,9% trong năm 2025, Đan Mạch duy trì nhu cầu vay nợ ở mức thấp.
Tuy nhiên, nợ thấp chưa hẳn là dấu hiệu của sức mạnh tài khóa. Trường hợp Haiti, với tỷ lệ nợ chỉ 10,5%, cho thấy mức nợ rất thấp cũng có thể bắt nguồn từ việc khó tiếp cận tín dụng và năng lực vay nợ hạn chế.
Nhìn chung, khả năng quản lý nợ của một chính phủ không chỉ phụ thuộc vào quy mô khoản nợ, mà còn phụ thuộc vào tài sản, chi phí vay và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Khi chi phí lãi vay tăng, các nền kinh tế nợ nhiều sẽ ngày càng khó cân đối giữa nghĩa vụ trả các khoản vay cũ và nguồn lực cho tăng trưởng trong tương lai.
Với Việt Nam, tỷ lệ nợ công năm 2026 được dự báo ở mức 28,3% GDP, thuộc nhóm 20 nền kinh tế có tỷ lệ nợ công thấp nhất thế giới.
Báo cáo Stern công bố cách đây 20 năm đã chỉ ra rằng chi phí không hành động trước biến đổi khí hậu lớn hơn chi phí ứng phó, đồng thời khẳng định tăng trưởng kinh tế có thể song hành với cắt giảm phát thải. Tuy nhiên, những mô hình kinh tế truyền thống vẫn đang khiến nhiều chính phủ, doanh nghiệp đánh giá thấp rủi ro khí hậu và chậm chuyển đổi…
Tỷ lệ thất nghiệp dự báo năm 2026 có sự chênh lệch rõ rệt giữa các nền kinh tế, phản ánh bức tranh thị trường lao động rất khác nhau trên thế giới. Trong đó, Việt Nam thuộc nhóm nền kinh tế có tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất...
Thông tin về gánh nặng chi phí ngày càng tăng của Mỹ trong cuộc chiến ở Vùng Vịnh xuất hiện trong bối cảnh nước này chuẩn bị bước vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ...
Thị trường tài chính Indonesia tiếp tục chịu sức ép lớn khi nhà đầu tư đồng loạt bán ra cổ phiếu, trái phiếu chính phủ và đồng rupiah, trong bối cảnh lo ngại công ty cung cấp chỉ số MSCI có thể hạ hạng thị trường chứng khoán nước này...
Trong tháng 10, rủi ro tín dụng của doanh nghiệp Nhật Bản tăng mạnh nhất kể từ tháng 9/2022, gia tăng sức ép lên thị trường trái phiếu vốn đang phải hấp thụ lượng phát hành kỷ lục...
Theo nhận định của các chuyên gia, so với môi trường đầu tư cách đây vài năm thì thời điểm hiện tại nhà đầu tư cần chuyển hướng nhìn vào khả năng thanh khoản, khả năng đáp ứng nhu cầu thực... để dự án trở thành hàng hóa có khả năng thanh khoản. Nếu không sẽ dễ rơi vào tình cảnh tồn kho như số liệu Bộ Xây dựng vừa công bố mới đây.
Đại biểu Quốc hội cho rằng, nếu không quy định rõ, việc mở rộng quyền sở hữu công trình có thể dẫn đến cách hiểu rằng người mua đồng thời được nhận quyền sử dụng đất tương ứng với phần diện tích sàn, trong khi Nghị quyết số 21-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra giới hạn rất rõ về vấn đề này.