Nông thôn đã đi một quãng dài từ chuyện đủ ăn, có điện, có đường, có trường, có trạm. Trên nền ấy, một lớp thay đổi khác đang hình thành: cánh đồng được quản trị bằng dữ liệu, phụ phẩm trở thành đầu vào mới, sản vật quê nhà có thương hiệu, có mã truy xuất, có thể bán qua một chiếc điện thoại.
Nông nghiệp xanh và nông thôn thông minh gặp nhau ở những việc rất gần với người dân: làm ra nhiều giá trị hơn trên đất cũ, giảm phần phải bỏ đi, giữ môi trường sống và tiếp cận thị trường thuận lợi hơn.
Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai từ năm 2010. Qua nhiều giai đoạn, giao thông, điện, trường học, y tế, văn hóa, thu nhập và môi trường đã làm thay đổi nhiều vùng quê. Sang giai đoạn 2026-2030, bộ tiêu chí quốc gia thu gọn còn 10 nhóm nhưng yêu cầu cao hơn, trong đó có khoa học công nghệ và chuyển đổi số. Đường phải thông, dịch vụ phải gần, sản xuất phải có thị trường và người dân phải sử dụng được những tiện ích của thời đại số.
Thanh Hóa là một ví dụ điển hình. Sau 15 năm xây dựng nông thôn mới, tỉnh bước vào giai đoạn mới với mục tiêu hướng tới những vùng quê hiện đại, giàu đẹp, bản sắc và bền vững, lấy chất lượng sống của người dân làm đích. Ở nhiều xã, yêu cầu đã vượt khỏi việc cứng hóa đường làng, mở sang thu nhập, cảnh quan, môi trường, dịch vụ công, số hóa và khả năng tổ chức đời sống cộng đồng. Những “thôn thông minh” bắt đầu xuất hiện với camera an ninh, nhóm cộng đồng trên nền tảng số, thanh toán không dùng tiền mặt và các kênh tương tác giữa người dân với chính quyền.
Hà Tĩnh cũng đi qua một chặng tương tự. Đến tháng 4/2025, tỉnh có 69 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, gần 41% số xã khi đó. Ở một số thôn triển khai mô hình thông minh, chiếc điện thoại đã đi vào những việc rất thường ngày. Tại Trung Tiến, xã Việt Tiến cũ, tỷ lệ người dân sử dụng smartphone từng đạt khoảng 90%; người nhận lương hưu, trợ cấp xã hội dùng thẻ ATM, camera được lắp để hỗ trợ an ninh. Bên cạnh điện, đường, trường, trạm, nông thôn đang có thêm một lớp hạ tầng khác: hạ tầng số.
Hạ tầng số chỉ phát huy tác dụng khi giao thông, điện, trường học, y tế và dịch vụ công đủ tốt. Đường yếu khiến xe hàng khó vào; sóng internet chập chờn cản trở thương mại điện tử. Nông thôn thông minh vì thế được xây tiếp trên nền tảng đã tích lũy qua nhiều năm xây dựng nông thôn mới.
Vùng mía Lam Sơn từng bắt đầu trong một hoàn cảnh rất khác. Những năm đầu, dân thiếu giống, thiếu vốn, có nhà thiếu cả gạo ăn trong những tháng chờ mía lớn; nhà máy lại thiếu nguyên liệu. Anh hùng Lao động Lê Văn Tam đi xe đạp xuống các xã, các đội sản xuất, để tìm hiểu vì sao dân chưa mặn mà với cây mía, rồi tìm cách xin kinh phí mua hàng trăm tấn gạo ứng trước cho người trồng. Gạo về trước, sau đó mới đến giống, vốn, hợp đồng và vùng nguyên liệu.
Ông vẫn nhớ lời động viên của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt trong những lần về Lam Sơn: “Cứ làm đi, làm tốt lắm. Vướng gì cứ nói với tôi”. Từ mối liên kết giữa nhà máy và người trồng mía, cơ giới hóa, phân vi sinh, quản trị vùng nguyên liệu rồi kinh tế tuần hoàn dần được đưa vào sản xuất. Bã mía, mật rỉ và phụ phẩm không còn chỉ là phần bỏ đi.
Đến cuối năm 2024, Lasuco cùng Idemitsu Kosan và Sagri triển khai dự án giảm phát thải carbon trên vùng nguyên liệu mía. Từ 500 ha thử nghiệm năm 2025, dự án hướng tới 8.000 ha. Vệ tinh theo dõi vùng trồng; dữ liệu đất, cây và quá trình canh tác được thu thập; từng hecta gắn với mã nhận diện và nhật ký sản xuất. Người trồng thay đổi những việc rất cụ thể như không đốt lá mía sau thu hoạch, tận dụng phụ phẩm làm phân hữu cơ, giảm phân hóa học và trả dinh dưỡng về đất.
Ông Lê Văn Phương, Tổng giám đốc Lasuco, gọi mỗi hecta là một “đơn vị dữ liệu sống”. Trên thửa ruộng quen thuộc, ngoài năng suất và trữ lượng đường đã có thêm những phép đo về phân bón, phụ phẩm, đất và phát thải. Nếu lượng carbon cắt giảm hoặc lưu giữ được đo lường, báo cáo và thẩm tra theo tiêu chuẩn, người nông dân có thể có thêm một nguồn thu từ chính cách mình canh tác. Quãng đường từ những chuyến gạo ngày trước tới dữ liệu vệ tinh hôm nay đánh dấu sự thay đổi trong cách tổ chức kinh tế nông thôn.
Người nông dân vẫn ở trung tâm của quá trình chuyển đổi. Từ chỗ nhận giống, vốn, gạo ứng trước và ký hợp đồng thu mua, nay họ làm quen với nhật ký sản xuất, dữ liệu vệ tinh, yêu cầu giảm phát thải và cách tận dụng phụ phẩm. Công nghệ chỉ có ý nghĩa khi các chuẩn mới đi vào từng thửa ruộng mà người trồng mía vẫn giữ được vị trí trong chuỗi giá trị.
Rời vùng mía Lam Sơn, đi về miền Tây Nghệ An, chúng tôi gặp một cách làm khác ở Nghĩa Đàn. Dự án chăn nuôi bò sữa công nghệ cao do Anh hùng Lao động Thái Hương khởi xướng từ năm 2008 đưa dữ liệu vào từng khâu sản xuất. Sức khỏe đàn, thức ăn, sinh sản, thú y và năng suất được theo dõi trong hệ thống quản trị. Con chip gắn trên bò là chi tiết dễ nhìn thấy; phía sau nó là phòng thí nghiệm, kỹ sư, tiêu chuẩn và một hệ thống dữ liệu vận hành trên quy mô lớn.
Cách Nghĩa Đàn không quá xa, ở Hóa Quỳ, Nguyễn Lê Ngọc Linh đi một con đường khác. Cô gái dân tộc Thổ từng rời quê xuống Hà Nội học đại học rồi làm truyền thông. Năm 2018, Linh bỏ phố về quê khi những khoảng đồi quanh nhà đã thưa rừng, nhiều nơi chỉ còn lau lách và đất bạc màu. “Họ bảo tôi điên, rằng ở đó khó khăn, thiếu thốn đủ thứ, không có tương lai”, Linh nhớ lại.
Khởi đầu với 3 ha đất đồi bố mẹ cho mượn, Linh dựng Vườn rừng Bản Thổ theo cấu trúc nhiều tầng tán của rừng tự nhiên. Lim, dẻ, dổi, mắc khén được trồng xen với bưởi, cam, ổi, mít; phía dưới là gừng, nghệ, tỏi tía, chùm ngây và dược liệu. Khu vườn dần có gần 60 loài cây bản địa, cây ăn quả, cây dược liệu cùng gà, ong. Linh giữ cỏ và lá rụng trên mặt đất để giữ ẩm, tạo mùn; ong được nuôi trong môi trường rừng, mật ong lại kết hợp với dược liệu bản địa để làm sản phẩm.
Điểm xuất phát được Linh kể: “Từ một đồi rừng lau lách, không điện, không đường, chỉ có một khung nhà sàn dựng lên...”. Từ khoảng đồi ấy, cô tự học cách trồng cây, chăm rừng, nuôi ong rồi mày mò chế biến. Những thứ trước đây mọc trên núi, nằm trong rừng và thường chỉ bán như nguyên liệu thô dần có tên sản phẩm, bao bì và người mua. Năm 2026, Nguyễn Lê Ngọc Linh trở thành đại biểu Quốc hội khóa XVI.
Sau những lần kinh doanh thất bại, Linh nhận ra tiền chưa phải phần khó nhất. Nhiều người trẻ trở về quê có ý tưởng, có sức và một ít vốn ban đầu, nhưng khi vướng tín dụng, chứng nhận hay đất đai, họ không biết hỏi ai. “Họ cô đơn ngay trên chính quê hương của mình. Đó mới là cái mệt nhất”, Linh nói.
Chính Linh từng nghĩ chỉ cần có vốn là làm được. Sau này, chị hiểu niềm tin phải được gây dựng từng ngày. Khi chị trồng dược liệu, có người cười vì cho rằng cách làm ấy không thể thành. Tiền có thể vay, kiến thức có thể học; niềm tin chỉ hình thành qua việc làm cụ thể. Linh đúc lại hành trình của mình bằng một câu: “Cái khó nhất không phải là trồng cây. Là trồng niềm tin”.
Hai mô hình ở Nghĩa Đàn và Hóa Quỳ khác nhau về quy mô, vốn và cách tổ chức, nhưng cùng gợi một hướng đi: giá trị của nông nghiệp không nằm riêng ở sản lượng thu hoạch. Dữ liệu giúp quản trị đàn bò chính xác hơn; cấu trúc nhiều tầng tán giúp một khu vườn tạo ra nhiều sản phẩm trên cùng diện tích; tri thức bản địa, dược liệu, ong và cây rừng có thể đứng chung trong một hệ sinh thái sinh kế. Với miền Tây Bắc Trung Bộ, đây là cách làm đáng chú ý khi quỹ đất hữu hạn và yêu cầu giữ rừng ngày càng lớn.
Một thay đổi khác có thể nhìn thấy trên những kệ hàng. Mắm, trà, dược liệu, miến, mật ong, cà phê, sản phẩm thủ công từng chủ yếu bán trong chợ quê nay được chuẩn hóa, đóng gói, gắn nhãn và xếp hạng OCOP. Ba sao, bốn sao, năm sao không phải những chiếc huy chương để trưng bày. Sau mỗi hạng sao là yêu cầu về chất lượng, truy xuất nguồn gốc, bao bì, năng lực sản xuất và thị trường. Với nhiều hộ và hợp tác xã, OCOP là bước đầu để một sản vật quen thuộc trở thành hàng hóa có thương hiệu.
Đến tháng 5/2026, Thanh Hóa có 674 sản phẩm OCOP được công nhận, đứng thứ ba cả nước về số lượng; trong đó có 2 sản phẩm 5 sao, 60 sản phẩm 4 sao và 612 sản phẩm 3 sao. Nhưng sau khi được gắn sao, sản phẩm bán ở đâu và có sống được bằng thị trường hay không? Một chứng nhận chỉ có ý nghĩa lâu dài khi người làm ra sản phẩm tăng được đơn hàng, thu nhập và khả năng đứng vững.
Quảng Trị đã có những kết quả rất cụ thể. Đầu năm 2026, gần 10.000 đơn vị trà cần tây, trà tía tô và cao cà gai leo của Công ty TNHH Dược liệu hữu cơ An Xuân ở Cam Lộ được xuất khẩu chính ngạch sang Mỹ. Các sản phẩm này đạt OCOP 5 sao và 4 sao cấp tỉnh. Một cây dược liệu từ vùng đất miền Trung, sau những bước chuẩn hóa về canh tác, chế biến và chất lượng, đã đi vào hệ thống bán lẻ của một thị trường cách quê nhà nửa vòng trái đất. Ước mơ đưa sản vật làng quê ra thế giới vì thế không còn hoàn toàn xa xôi.
Những phiên chợ mới đã xuất hiện ngay trên màn hình điện thoại. Chị Ngô Thị Hà, Giám đốc HTX Sản xuất kinh doanh thực phẩm an toàn Hà Thắng ở xã Trường Ninh, nhiều năm dùng điện thoại để chụp ảnh, quay video, đăng bài và livestream giới thiệu xúc xích, chả heo OCOP 3 sao. Việc tưởng nhỏ ấy làm thay đổi cả cách sản xuất: muốn khách ở xa tin, sản phẩm phải được đóng gói tốt hơn, thông tin rõ hơn và câu chuyện về nguồn gốc phải thuyết phục hơn.
Năm 2025, theo Hội Nông dân tỉnh Quảng Trị, 100% chủ thể OCOP trên địa bàn đã xây dựng tài khoản số và gần 6.300 hội viên nông dân tham gia các nền tảng thương mại điện tử. Những buổi livestream từng xa lạ trở thành một lớp học thực hành. Người nông dân học cách đặt chiếc điện thoại trước gian hàng, trả lời khách, chốt đơn và đưa sản phẩm ra khỏi phạm vi một phiên chợ xã.
Ở vùng cao La Lay, câu chuyện làm kinh tế còn gần gũi hơn. Tổ hợp tác dệt thổ cẩm A Bung có 12 thành viên, chủ yếu là phụ nữ Pa Kô. Những tấm thổ cẩm trước đây làm cho nhu cầu trong bản, số lượng ít và khó tìm khách, nay được giới thiệu qua mạng để nhận đơn hàng. Ở Tà Rụt, một nhóm người Pa Kô nuôi dê còn dùng nhóm trên điện thoại thông minh để gửi ảnh đàn vật nuôi, hỏi nhau cách xử lý khi dê bị bệnh. Công nghệ ở đây chưa phải những hệ thống đắt tiền. Đôi khi nó chỉ là một chiếc smartphone giúp kiến thức đi nhanh hơn qua những con dốc.
Và một ngày không xa, chiếc điện thoại ấy có thể hiện thêm một dòng thu nhập khác từ rừng. Giai đoạn 2023-2025, Quảng Trị được phân bổ hơn 364 tỷ đồng từ nguồn chi trả giảm phát thải vùng Bắc Trung Bộ và đã chi hơn 347 tỷ đồng cho các đối tượng hưởng lợi. Tháng 8/2026, cộng đồng thôn Trăng Tà Puồng, xã Hướng Lập, nơi quản lý hơn 400 ha rừng, trở thành cộng đồng đầu tiên được nhận kinh phí từ kết quả giảm phát thải carbon rừng. Từ tuần rừng, giữ cây đến một khoản chi trả có thể được theo dõi minh bạch, câu chuyện carbon bắt đầu chạm tới đời sống của cộng đồng miền núi.
Bước chuyển ấy vẫn còn nhiều trở ngại. Ở nhiều bản làng, đường, điện, nước và internet chưa đồng đều; kỹ năng số, logistics và năng lực làm thị trường còn hạn chế. Vì thế, “nông thôn thông minh” phải bắt đầu từ việc công nghệ giải quyết được nhu cầu cụ thể: bán tấm thổ cẩm, chữa bệnh cho đàn dê, truy xuất gói trà hay nhận phần lợi ích từ khu rừng cộng đồng bảo vệ.
Một phép thử khác của nông thôn mới nằm ở những con đường rất nhỏ. Tại xã Sơn Giang, Hà Tĩnh, khi địa phương vận động mở rộng tuyến đường liên thôn dài hơn 2 km, 35 hộ dân ở hai thôn Lâm Thọ và Lâm Khê tự nguyện hiến hơn 1.200 m² đất, chủ yếu là đất vườn cùng nhiều cây lâu năm. Gia đình ông Phan Đình Phùng hiến gần 150 m². Mặt bằng từ khoảng 4 m được mở lên gần 8 m, gồm cả lề đường và hệ thống thoát nước. Con đường không mang quy mô của một cảng biển hay nhà máy, nhưng lại cho thấy một nguồn lực khác của phát triển: sự đồng thuận.
Phần đất người dân lùi lại trước cửa nhà không thể quy đổi hết thành mét vuông. Nó chỉ xuất hiện khi lợi ích chung được giải thích đủ rõ và khi người dân tin rằng phần mình đóng góp sẽ trở thành hạ tầng phục vụ chính cộng đồng. Nông thôn thông minh vì thế không chỉ có camera, điện thoại hay dữ liệu. Nền móng sâu hơn vẫn là khả năng tổ chức cộng đồng để đường sá, thị trường, công nghệ và niềm tin cùng đi tới một hướng.
Điện, đường, trường, trạm vẫn là nền móng của làng quê. Trên nền ấy, nông thôn mới nâng cao, OCOP, hạ tầng số và sản xuất xanh đang mở thêm những cách làm ăn mới. Một người nông dân có thể bán hàng bằng điện thoại; phụ nữ Pa Kô đưa thổ cẩm lên mạng; cộng đồng giữ rừng bắt đầu nhận phần lợi ích từ giảm phát thải; sản phẩm OCOP có thể đi xa khỏi nơi nó được làm ra.
Khoảng cách từ vườn đồi tới thị trường vẫn còn, nhất là với những sản phẩm đã đạt chuẩn nhưng chưa có đầu ra ổn định. Tuy vậy, bên cạnh con đường bê tông đã có thêm dữ liệu, tiêu chuẩn, thương hiệu và những kênh bán hàng vượt khỏi phiên chợ gần nhà.
Nghị quyết 19-NQ/TW đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng phát triển vào mô hình phát triển mới. Ở nông thôn, những khái niệm lớn ấy có thể nhìn thấy từ một mã truy xuất trên gói trà, dữ liệu trên cánh đồng mía, con chip trên đàn bò, chiếc điện thoại của người bán hàng hay khoản tiền cộng đồng nhận được từ khu rừng mình giữ.
“Cần thay đổi cách tiếp cận, từ 'làm cho người dân' sang 'làm cùng người dân'; từ hỗ trợ người dân sang trao năng lực; từ xem người dân là người thụ hưởng sang người đồng kiến tạo”, Phó Chủ tịch Quốc hội Lê Minh Hoan đã nhấn mạnh điều này khi phát biểu tại Diễn đàn Hợp tác phát triển nông thôn Việt Nam - Hàn Quốc, ngày 12/9/2026.
Sau bốn mươi năm Đổi mới, làng quê đã “lột xác” từ phần hạ tầng đến cung cách làm ăn. Nông nghiệp xanh đang đặt thêm giá trị vào đất, nước, phụ phẩm và carbon; nông thôn thông minh mở thêm đường cho sản vật và dịch vụ. Có những thứ đi rất xa khỏi quê nhà, nhưng phần giá trị tạo ra vẫn có thể trở về nuôi người làm ra nó và vùng đất đã sinh ra nó.
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.
Trải qua hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội từng bước phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Bước vào năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực khi tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ, góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế Thủ đô.
Bắc Trung Bộ từng được biết đến là một trong những dải đất gặp nhiều khó khăn nhất Việt Nam do địa hình dẹp ngang, thiên tai khắc nghiệt và chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dấu tích chiến tranh. Nhưng hôm nay, chính những yếu tố từng bị xem là bất lợi đang được đánh giá lại. Biển mở ra không gian kinh tế, Trường Sơn nối với các hành lang giao thương, còn cao tốc rút ngắn khoảng cách, tiết giảm chi phí logistics, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tài nguyên tự nó chưa tạo nên lợi thế. Giá trị xuất hiện khi con người biết tổ chức, kết nối và sử dụng tài nguyên đúng cách.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.