Có những vùng đất càng đi chậm càng thấy nhiều điều đáng giá. Một mái thành rêu phong ở Huế, dòng nước trong veo dưới chân Trường Sơn, hang động được gìn giữ qua triệu năm hay nếp nhà nép bên sườn núi đều có thể mở ra sinh kế mới. Nhưng giá trị không nằm ở việc đón thật đông người hay dựng thêm thật nhiều dịch vụ. Hành trình qua Huế, Sơn Đoòng và những bản làng phía Tây gợi một cách làm khác: để di sản bước vào đời sống hôm nay mà vẻ đẹp, ký ức và phần dành cho mai sau vẫn vẹn nguyên.
Ở Huế, câu hỏi đặt ra khá rõ: làm sao tạo thêm giá trị kinh tế mà không làm mỏng đi giá trị lịch sử? Những số liệu về doanh thu vé tham quan là phần dễ nhìn thấy. Phía sau còn có cách kể di sản, công nghệ số, công nghiệp văn hóa và sinh kế của cộng đồng. KTS. Hoàng Việt Trung, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế, đặt nguyên tắc: “Bảo tồn là nền tảng, còn phát huy giá trị là mục tiêu”.
Chỉ tính riêng nửa đầu năm 2026, doanh thu bán vé tham quan di tích Huế tăng hơn 22% so với cùng kỳ. Dịp 30/4, doanh thu đạt 3,74 tỷ đồng. Ngày 1/5/2026 tiếp tục lập mốc 4,212 tỷ đồng. Nhưng với ông Trung, ý nghĩa của di sản không dừng ở doanh thu. Bảo tồn tốt tạo nền tảng cho du lịch, công nghiệp văn hóa, giáo dục, nghiên cứu và dịch vụ. Còn những giá trị mới được tạo ra lại bổ sung nguồn lực để di sản tiếp tục sống trong đời sống đương đại.
Công nghệ đang mở thêm một cánh cửa. AI, quét 3D, thực tế ảo và thực tế tăng cường giúp câu chuyện về Cố đô được kể trực quan, sinh động và gần hơn với thế hệ trẻ, du khách quốc tế. Tuy nhiên, ông Trung nhấn mạnh: “Công nghệ không thay thế di sản mà làm nổi bật hơn những giá trị vốn có của di sản”.
Và cuối cùng vẫn là người dân. Theo ông Trung, bảo tồn và sinh kế có thể đi cùng nhau. Mỗi người dân có thể trở thành một “đại sứ di sản”, vừa gìn giữ, lan tỏa văn hóa, vừa tìm thấy cơ hội từ nghề thủ công, ẩm thực, biểu diễn, sản phẩm lưu niệm và các dịch vụ sáng tạo. Ông gói tinh thần ấy trong câu nói: “Huế là nơi quá khứ được gìn giữ để kiến tạo tương lai về miền hạnh phúc”.
Huế đang nối di sản với sáng tạo, cộng đồng, doanh nghiệp và công nghệ mà không tách khỏi phần lõi đã làm nên thành phố. Năm 2026, thành phố đặt mục tiêu đón khoảng 7–7,5 triệu lượt khách, đồng thời phát triển sản phẩm đặc trưng gắn với không gian văn hóa di sản. Lượng khách chỉ thực sự có ý nghĩa khi kéo theo mức chi tiêu cao hơn và sinh kế cho người làm nghề, nghệ nhân, hộ kinh doanh.
Từ một tấm vé vào Đại Nội có thể nối sang thuyết minh, biểu diễn, ẩm thực, thủ công, lưu niệm hay giáo dục trải nghiệm. Những dịch vụ ấy vừa giúp du khách hiểu Huế sâu hơn, vừa tạo sinh kế cho người giữ nghề và không gian văn hóa.
Khi thu nhập từ di sản quay trở lại nuôi nghề, nuôi cộng đồng và bảo tồn, “sinh lời” không còn đối lập với “giữ lại”.
Sơn Đoòng gần như đi ngược tư duy tăng trưởng bằng số lượng. Hang động vốn đã tồn tại hàng triệu năm, trước khi trở thành sản phẩm du lịch nổi tiếng toàn cầu; giá trị kinh tế dựa vào sự khan hiếm, chất lượng trải nghiệm, năng lực tổ chức và giới hạn bảo tồn. Giữ được phần cốt lõi ấy mới tạo nên giá trị lâu dài.
Giới hạn số khách là một phần của cách bảo vệ Sơn Đoòng. Hang động, rừng, bờ biển hay khu di sản đều có sức chịu tải; vượt quá giới hạn có thể làm giảm trải nghiệm và tổn hại chính tài sản thu hút du khách. Giá trị cao vì thế không nhất thiết đồng nghĩa với lượng khách thật lớn.
Nhưng còn một phép tính khác: bao nhiêu lợi ích từ kỳ quan ở lại địa phương? Giá trị lan rộng hơn khi người dân có thể tham gia làm hướng dẫn viên, porter, cung ứng thực phẩm, vận chuyển, lưu trú và sản phẩm bản địa. Qua từng mùa khách, kỹ năng ngoại ngữ, cứu hộ, quản trị điểm đến và bảo vệ môi trường cũng có thể được tích lũy trong cộng đồng.
Cuối tháng 7/2026, Huế và Quảng Trị cùng ngành đường sắt bàn phương hướng phát triển sản phẩm “Cố đô Huế - Phong Nha: Hành trình kỳ quan - Di sản thế giới”. Thay vì để từng điểm đến đứng riêng lẻ, hướng liên kết này ghép di sản văn hóa và thiên nhiên trong một hành trình bằng đường sắt. Nếu khách ở lại lâu hơn, dòng chi tiêu cũng có cơ hội đi qua nhiều điểm và nhiều nhóm cung ứng hơn.
Theo tuyến đường Hồ Chí Minh, chúng tôi tìm đến xã Đakrông, Quảng Trị. Ngay cạnh cây cầu Đakrông lịch sử là khu du lịch sinh thái suối nước nóng Klu, một điểm đến từng khá quen thuộc với du khách trên hành trình qua miền tây Quảng Trị.
Nhưng khi chúng tôi đến, Klu đã tạm dừng hoạt động. Khu du lịch ven suối được trưng dụng làm trụ sở UBND xã sau sáp nhập. Tại đây, ông Lê Hoài Phong, Chủ tịch UBND xã Đakrông, cho biết địa phương đang tìm hướng phát triển du lịch cộng đồng. Du lịch có thể mở thêm sinh kế cho người dân miền núi, nhưng từ một nơi có cảnh quan đẹp đến một điểm đến có thể đón khách thường xuyên, giữ khách ở lại và tạo nguồn thu ổn định vẫn còn một khoảng cách. Ông Phong giới thiệu chúng tôi đi thực tế tại A Lao, một khu sinh thái còn nguyên sơ giữa núi rừng Trường Sơn, cách trụ sở UBND xã khoảng 22 km về phía Nam.
Hôm chúng tôi đến là giữa mùa hè. Đêm trước trời có mưa. Khu du lịch đóng cửa. Sự vắng lặng càng làm vẻ đẹp của A Lao nổi bật. Dòng nước trong len giữa những khối đá với hình thù kỳ thú do thiên nhiên kiến tạo, bao quanh là màu xanh của núi rừng Trường Sơn. Không người hướng dẫn, không dịch vụ, chúng tôi tự xuống tắm suối, tự tìm những góc đẹp để check in.
Dưới suối lúc ấy có hai em nhỏ trong bản đang tắm. Hỏi người làm dịch vụ ở đâu, các em bảo ngày nắng mới có người ra đây. Chúng tôi tìm số điện thoại để gọi, nhưng cuộc gọi liên tục gián đoạn vì sóng di động chập chờn. Một số mạng viễn thông ở khu vực này chưa phủ sóng ổn định.
Khi chúng tôi chuẩn bị ra về, một đoàn khách khác vừa tới. Họ cũng tìm xuống dòng suối, nhìn quanh tìm người, nhưng khu dịch vụ vẫn đóng cửa. Một ngày mà người dân nghĩ sau trận mưa đêm trước sẽ không có khách, thực tế vẫn có những người vượt hơn hai chục cây số vào đây.
Rời A Lao, chúng tôi ngược ra phía đầu bản khoảng 1,5 km mới gặp hộ chị Hồ Thị Hà, một người Vân Kiều làm dịch vụ ẩm thực. Chị Hà cho biết A Lao rất đẹp và còn hoang sơ, nhưng khách hiện chủ yếu đến vào cuối tuần và những ngày nắng. Đêm trước có mưa, người dân nghĩ sẽ vắng khách nên hôm ấy không mở dịch vụ.
Nhắc đến A Lao, chị Hà kể thêm về suối Tà Lung ở phía đầu nguồn. Vài năm trước, 16 hộ người Vân Kiều trong bản cùng góp tiền xây dựng một khu du lịch sinh thái. Ban đầu khách đến rất đông. Với những gia đình sống giữa Trường Sơn, dòng khách mở ra hy vọng về một nguồn thu mới ngay trên quê hương mình.
Thế rồi một trận lũ quét ập xuống. Theo lời chị Hà, khi 16 hộ dân còn chưa kịp thu hồi vốn, cả khu du lịch đã bị nước cuốn trôi.
A Lao có cảnh đẹp và khách du lịch vẫn tìm đến nhưng chưa đủ để lấp đầy những ngày trống khách khiến dịch vụ phải đóng cửa. Ở Tà Lung, trận lũ cuốn đi công trình do người dân góp vốn xây dựng khi nhiều hộ chưa kịp thu hồi vốn. Cơ hội và rủi ro cùng hiện diện rất gần.
Cả A Lao và Tà Lung, dịch vụ hiện có chưa đủ để giữ chân du khách lâu hơn. Tắm suối, chụp ảnh và ẩm thực vẫn là sản phẩm chính, trong khi lưu trú, trải nghiệm, quảng bá và viễn thông còn hạn chế.
Người dân đã nhìn thấy cơ hội và tự bước vào thị trường. Nhưng đường vào khu du lịch sinh thái, thông tin liên lạc, kết nối điểm đến, kỹ năng dịch vụ và ứng phó thiên tai đều vượt quá khả năng của từng hộ riêng lẻ.
Người dân A Lao và Tà Lung đã nhận ra cảnh quan có thể tạo sinh kế, thậm chí tự góp vốn để thử sức. Điều họ khó tự tạo ra là kết nối ổn định, thông tin thị trường, kỹ năng tổ chức dịch vụ và hạ tầng có khả năng chống chịu tốt hơn. Khi các điều kiện ấy được bổ sung, cộng đồng có thể phát triển bằng chính nguồn lực và bản sắc của mình.
Nếu Huế giữ ký ức trong thành quách, cung điện, âm nhạc và những nghề đã đi qua nhiều thế hệ, thì phía Tây Quảng Trị lại giữ ký ức theo một cách riêng khác. Những ký ức được nằm trong tên đất, con đường, bến sông, nghĩa trang, trong những bản làng tựa vào Trường Sơn và cả trong cách người dân kể về nơi mình sống. Ở Bắc Trung Bộ, thiên nhiên và lịch sử nhiều khi chồng lên nhau đến mức một cảnh quan đẹp cũng đồng thời là một không gian văn hóa.
Khi câu chuyện chuyển từ tính cách con người sang chiều sâu văn hóa, Đại tá Nguyễn Hữu Quý nhắc đến những “trầm tích văn hóa” của dải đất từ Thanh Hóa đến Huế. Đó là sự giao thoa của nhiều lớp văn hóa, từ văn hóa Việt, văn hóa Chăm đến đời sống của các tộc người dọc Trường Sơn. Cùng với di tích là lối sống, tập quán, tiếng nói, ẩm thực và ký ức cộng đồng. Những thứ khó đo bằng mét vuông hay doanh thu ấy làm cho mỗi nơi có một gương mặt riêng.
Quảng Trị là một trường hợp đặc biệt. Với ông Quý, dấu tích chiến tranh hiển hiện dày đến mức đi trên mảnh đất này nhiều khi có thể gặp quá khứ ngay trong hiện tại. Thành cổ, sông Thạch Hãn, Đường 9, Trường Sơn không dừng ở những địa danh lịch sử. Chúng còn mang theo ký ức về những thế hệ đã đi qua chiến tranh và khát vọng hòa bình của những người còn sống. Vì vậy, du lịch về nguồn hay trở lại chiến trường xưa, nếu chỉ dừng ở một điểm check-in, sẽ làm mỏng đi phần sâu nhất của trải nghiệm.
Chiều sâu ấy cũng có ở những bản làng dọc Trường Sơn. A Lao có dòng suối trong và rừng xanh, nhưng cảnh quan mới chỉ là phần nhìn thấy. Đời sống của người Vân Kiều, món ăn chị Hồ Thị Hà làm cho khách, cách cộng đồng sống với rừng, với mùa mưa và những con suối mới là phần khiến nơi này khác một khu sinh thái có thể dựng ở bất cứ đâu. Ông Quý nói một ý rất gần với điều chúng tôi gặp trên đường: “Chính văn hóa và lối sống người dân có thể trở thành sản phẩm du lịch khi những giá trị ấy còn được gìn giữ”.
Bởi vậy, giải bài toán kinh tế ở A Lao hay Tà Lung không dừng ở thêm phòng nghỉ, biển chỉ dẫn hay sóng điện thoại. Những thứ đó cần để đón khách. Nhưng nếu phát triển du lịch cộng đồng bằng một khuôn mẫu giống nhau, thay nếp bản bằng những dịch vụ vay mượn, phần có giá trị nhất lại có thể mất trước khi sinh kế kịp bền. Người dân phải là người kể câu chuyện của mình, nấu món ăn của mình, dẫn khách qua không gian mình hiểu và quyết định phần nào của đời sống cộng đồng có thể chia sẻ với người ngoài.
Ở Huế, mái ngói cũ, tiếng nhạc cung đình hay nghề thủ công còn sống vì có người tiếp nối. Ở Sơn Đoòng, giới hạn khách giúp bảo vệ kỳ quan. Ở Trường Sơn, thổ cẩm, món ăn, câu chuyện bên bếp lửa hay ký ức về một con đường có giá trị khi cộng đồng còn nhận ra mình trong đó. Công nghệ và thị trường có thể đưa câu chuyện đi xa hơn, nhưng không thể thay thế phần gốc ấy.
“Di sản biết sinh lời” không có nghĩa biến mọi thứ thành hàng hóa. Sinh lời bền vững là khi nguồn thu quay lại nuôi người giữ nghề, giữ rừng, giữ nếp sống và không gian tạo nên sức hấp dẫn. Người trẻ có thể làm hướng dẫn viên, thiết kế trải nghiệm, bán sản phẩm bản địa hay sáng tạo nội dung số mà vẫn gắn bó với văn hóa quê mình. Khi ấy, văn hóa đi cùng phát triển và tạo cho vùng đất một gương mặt riêng.
Huế, Sơn Đoòng và những bản làng phía Tây gặp nhau ở một điểm: ký ức cộng đồng, cảnh quan, nghề truyền thống và căn tính vùng đất đều cần thời gian dài để hình thành, nhưng có thể mất đi nhanh chóng. Giữ được những giá trị ấy cũng là giữ vốn cho các vòng phát triển tiếp theo.
Bắc Trung Bộ có một kho báu gồm tài sản tự nhiên, lịch sử và văn hóa nằm thành chuỗi sát gần nhau. Liên kết có thể kéo dài hành trình và mở rộng sinh kế, nhưng mỗi điểm đến cần giữ bản sắc riêng. Không phải nơi nào cũng cần đông khách, nhiều dịch vụ và sáng đèn như nhau. Bởi có những địa danh với sự tĩnh lặng, giới hạn và câu chuyện thật đã đủ làm nên sức hút đặc biệt.
Khai thác di sản là cần thiết, nhưng biết dừng cũng quan trọng không kém. Dòng tiền từ du lịch và công nghiệp văn hóa chỉ bền vững khi bồi đắp lại con người, nghề, cảnh quan và ký ức đã tạo nên sức hấp dẫn. Khi những giá trị ấy còn sống trong đời sống hôm nay, di sản mới sinh lời mà không tự làm nghèo mình.
Đồng bằng sông Hồng đang đứng trước yêu cầu tổ chức lại nền nông nghiệp trong bối cảnh lao động ngày càng thiếu hụt, trong khi nhu cầu về thực phẩm an toàn, dinh dưỡng và chất lượng ngày càng gia tăng. Phát triển nông nghiệp sinh thái vì thế không chỉ là thay đổi kỹ thuật canh tác, mà còn đòi hỏi đổi mới cách tổ chức sản xuất, kết nối thị trường và quản trị tài nguyên, qua đó gia tăng giá trị từ cùng một hệ sinh thái.
Nhân dịp Ngày Chuyển đổi số quốc gia (10/10) và Ngày Công dân số Việt Nam (15/10), trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Nguyễn Thanh Hòa, Phó Giám đốc Trung tâm Chuyển đổi số TP. Hồ Chí Minh, chia sẻ về những bước tiến trong chuyển đổi số, phát triển hạ tầng, tạo lập, khai thác dữ liệu và các định hướng mới của thành phố. Trong đó, việc đồng bộ dữ liệu được xác định là nền tảng để các dịch vụ số ngày càng thuận tiện, thiết thực hơn và người dân là đối tượng trực tiếp được hưởng lợi.
Trải qua hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội từng bước phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Bước vào năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực khi tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ, góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế Thủ đô.
Nông thôn đã đi một quãng dài từ chuyện đủ ăn, có điện, có đường, có trường, có trạm. Trên nền ấy, một lớp thay đổi khác đang hình thành: cánh đồng được quản trị bằng dữ liệu, phụ phẩm trở thành đầu vào mới, sản vật quê nhà có thương hiệu, có mã truy xuất, có thể bán qua một chiếc điện thoại. Nông nghiệp xanh và nông thôn thông minh gặp nhau ở những việc rất gần với người dân: làm ra nhiều giá trị hơn trên đất cũ, giảm phần phải bỏ đi, giữ môi trường sống và tiếp cận thị trường thuận lợi hơn.
Bắc Trung Bộ từng được biết đến là một trong những dải đất gặp nhiều khó khăn nhất Việt Nam do địa hình dẹp ngang, thiên tai khắc nghiệt và chịu ảnh hưởng nặng nề bởi dấu tích chiến tranh. Nhưng hôm nay, chính những yếu tố từng bị xem là bất lợi đang được đánh giá lại. Biển mở ra không gian kinh tế, Trường Sơn nối với các hành lang giao thương, còn cao tốc rút ngắn khoảng cách, tiết giảm chi phí logistics, tăng sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tài nguyên tự nó chưa tạo nên lợi thế. Giá trị xuất hiện khi con người biết tổ chức, kết nối và sử dụng tài nguyên đúng cách.
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.