Phát triển bền vững đô thị gắn với mục tiêu tăng trưởng
HHằng Anh
Chọn cỡ chữ
Phát triển đô thị xanh, thông minh, bền vững và thích ứng với biến đổi khí hậu cần trở thành yêu cầu xuyên suốt trong quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý vận hành. Đặc biệt trước yêu cầu tăng trưởng cao, bền vững đòi hỏi đô thị phải thực sự trở thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế...
Yêu cầu tăng trưởng cao, bền vững đòi hỏi đô thị phải thực sự trở thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Ảnh: Nam Trần
Với
chủ đề “mô hình phát triển đô thị đóng góp cho tăng trưởng quốc gia”, Diễn đàn
phát triển bền vững đô thị Việt Nam 2026 diễn ra vào ngày 6/11 đã tập trung vào ba nhóm vấn đề lớn. Đó là: quy hoạch và các mô hình phát triển đô thị mới; tăng cường khả năng chống
chịu biến đổi khí hậu của đô thị; quản trị đô thị thông minh dựa trên dữ liệu.
Đây là những vấn đề có mối quan hệ chặt chẽ, tác động trực tiếp đến chất lượng,
hiệu quả và tính bền vững của quá trình đô thị hóa
ĐÔ THỊ PHẢI THỰC SỰ TRỞ
THÀNH ĐỘNG LỰC TĂNG TRƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ
Ông
Nguyễn Ngọc Tuấn, Phó trưởng Ban Chính sách Chiến lược Trung ương, cho biết Đại
hội XIV của Đảng đã xác định mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, phấn đấu tăng
trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2026- 2030 và những năm tiếp theo từ 10%/năm
trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng,
hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Trong tiến trình đó, đô thị hóa và
phát triển đô thị có vai trò đặc biệt quan trọng.
Sau
40 năm đổi mới, quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị ở nước ta đã đạt được
nhiều kết quả quan trọng. Chủ trương lớn của Đảng và thể chế phát triển đô thị
ngày càng được hoàn thiện, tạo cơ sở chính trị quan trọng để đổi mới quy hoạch,
tổ chức không gian phát triển và nâng cao chất lượng đô thị hóa.
Hệ
thống đô thị phát triển về số lượng, quy mô và phạm vi phân bổ, từng bước hình
thành các trung tâm và cực tăng trưởng. Hiện nay, cả nước có 910 đô thị, gồm 2
đô thị loại đặc biệt, 7 đô thị loại I và 901 đô thị loại II, III.
Ông Nguyễn Ngọc Tuấn
Phát triển bền vững đô thị Việt Nam trong thời kỳ mới đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Yêu cầu tăng trưởng cao, bền vững đòi hỏi đô thị phải thực sự trở thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Tiến trình đổi mới mô hình phát triển đất nước đòi hỏi hình thành các mô hình đô thị hiện đại, có năng suất cao và khả năng cạnh tranh quốc tế.
Kết
cấu hạ tầng và chất lượng không gian đô thị từng bước được cải thiện, góp phần
quan trọng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, thúc đẩy phát
triển nông thôn và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền. Công tác
quản lý và quản trị đô thị ngày càng có những chuyển biến tích cực.
Tuy
nhiên, ông Tuấn cho rằng quá trình đô thị hóa và phát triển đô thị vẫn còn nhiều
hạn chế, bất cập. Chất lượng và hiệu quả đô thị hóa chưa tương xứng với tiềm
năng, lợi thế. Chất lượng quy hoạch và hiệu quả tổ chức thực hiện quy hoạch còn
hạn chế. Kết cấu hạ tầng đô thị còn thiếu đồng bộ. Năng lực quản trị và khả
năng chống chịu của đô thị còn những điểm yếu…
Phát
triển bền vững đô thị Việt Nam trong thời kỳ mới đang đứng trước nhiều cơ hội
và thách thức đan xen. Yêu cầu tăng trưởng cao, bền vững đòi hỏi đô thị phải thực
sự trở thành động lực tăng trưởng của nền kinh tế. Tiến trình đổi mới mô
hình phát triển đất nước đòi hỏi hình thành các mô hình đô thị hiện đại, có
năng suất cao và khả năng cạnh tranh quốc tế.
Việc
sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, cùng với biến
đổi khí hậu và chuyển đổi số đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ quy hoạch và quản
trị đô thị…
Từ
thực tế đó, tại diễn đàn, ông Tuấn nhấn mạnh một số vấn đề trong đó có việc làm rõ vai trò của hệ thống
đô thị trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số và đổi mới mô hình phát
triển quốc gia; các mô hình phát triển đô thị mới, nâng cao chất lượng quy hoạch
và hiệu quả tổ chức không gian phát triển.
Cùng
với đó, tăng cường khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu, thúc đẩy phát triển
đô thị xanh và bền vững. Cần đánh giá toàn diện tác động của thiên tai, ngập lụt,
xâm nhập mặn, sạt lở và ô nhiễm môi trường đối với đô thị; tích hợp thích ứng
biến đổi khí hậu trong quy hoạch, đầu tư và quản lý; phát triển hạ tầng xanh, hạ
tầng có khả năng chống chịu và giao thông xanh. Các đô thị ven biển, vùng đồng
bằng cần có giải pháp phù hợp với điều kiện tự nhiên, bảo vệ hệ sinh thái, nâng
cao năng lực phòng ngừa và ứng phó với rủi ro. Ngoài ra, cần làm rõ cơ chế huy động nguồn
lực, tiếp cận tài chính xanh và các công cụ quản lý rủi ro…
CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ
Phát
biểu tại diễn đàn, ông Nguyễn Tường Văn, Thứ trưởng Bộ Xây dựng, chỉ rõ mô hình
phát triển đô thị trên thế giới đang có những chuyển đổi căn bản. Đô thị
không còn chỉ là nơi tập trung dân cư, các hoạt động sản xuất, kinh doanh và
công trình hạ tầng, mà ngày càng trở thành trung tâm của khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo, nơi hình thành các ngành kinh tế mới và những động lực tăng trưởng
mới.
Thực
tiễn phát triển đô thị của nhiều quốc gia phát triển trên thế giới cho thấy,
giá trị của đô thị không chỉ nằm ở quy mô diện tích, dân số hay công trình xây
dựng, mà quan trọng hơn là chất lượng quy hoạch, hiệu quả quản trị, năng suất sử
dụng các nguồn lực và khả năng tạo ra môi trường sống, làm việc thuận lợi cho
người dân và doanh nghiệp.
Tại
Việt Nam, thực tiễn phát triển của Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh cho thấy, đổi mới
mô hình phát triển đô thị không chỉ là thay đổi cấu trúc không gian, mà quan trọng
hơn là tổ chức lại các hoạt động kinh tế, khai thác hiệu quả những lợi thế mới,
nâng cao năng suất và tạo ra những động lực tăng trưởng có sức lan tỏa.
Tuy
nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, quá trình phát triển đô thị ở nước ta vẫn
còn không ít hạn chế. Tăng trưởng đô thị ở nhiều nơi còn phụ thuộc vào mở rộng
không gian, khai thác đất đai và đầu tư xây dựng; hiệu quả sử dụng tài nguyên
chưa cao; hạ tầng thiếu đồng bộ; tình trạng ùn tắc giao thông, ngập úng, ô nhiễm
môi trường và những bất cập trong quản trị đô thị vẫn đang đặt ra nhiều thách
thức.
Ông Nguyễn Tường Văn
Yêu cầu tăng trưởng kinh tế cao trong giai đoạn tới đòi hỏi hệ thống đô thị phải có sự chuyển đổi căn bản về mô hình phát triển. Vấn đề đặt ra không chỉ là chúng ta cần phát triển thêm bao nhiêu đô thị, mở rộng bao nhiêu không gian hay đầu tư thêm bao nhiêu công trình, mà quan trọng hơn là mỗi đô thị sẽ tạo ra những giá trị mới gì, đóng góp như thế nào vào năng suất, chất lượng tăng trưởng, sức cạnh tranh của nền kinh tế và chất lượng sống của người dân.
Trên
cơ sở đó, ông nhấn mạnh 5 định hướng lớn trong đổi mới mô hình phát triển đô thị
Việt Nam.
Thứ
nhất, đổi mới tư duy phát triển đô thị, gắn với tái cấu trúc không gian kinh tế
và đổi mới mô hình tăng trưởng quốc gia. Cần chuyển mạnh từ phát
triển đô thị theo chiều rộng sang phát triển theo chiều sâu; từ tăng trưởng chủ
yếu dựa vào đất đai, vốn đầu tư và mở rộng xây dựng sang tăng trưởng dựa trên
năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Thứ
hai, lấy chất lượng sống của người dân làm mục tiêu và thước đo của phát triển
đô thị. Thành công của một mô hình đô thị không chỉ được đánh giá bằng quy mô
kinh tế, tốc độ tăng trưởng hay diện mạo kiến trúc, mà phải được thể hiện qua
chất lượng môi trường sống, khả năng tiếp cận nhà ở, giao thông công cộng, dịch
vụ thiết yếu, không gian xanh và các cơ hội phát triển của người dân. Phát triển
đô thị mới phải đồng thời quan tâm chỉnh trang, tái thiết đô thị hiện hữu, bảo
tồn bản sắc văn hóa, bảo đảm công bằng xã hội và phát triển bao trùm.
Thứ
ba, thúc đẩy chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và nâng cao khả năng chống chịu của
đô thị.
Phát
triển đô thị xanh, thông minh và thích ứng với biến đổi khí hậu cần trở thành
yêu cầu xuyên suốt trong quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý vận hành. Cần kết
hợp đồng bộ hạ tầng xanh, hạ tầng kỹ thuật, giao thông công cộng, sử dụng năng
lượng hiệu quả và bảo vệ hệ sinh thái tự nhiên.
Đồng
thời, triển khai thực chất định hướng phát triển đô thị thông minh vừa được Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt; ưu tiên xây dựng, kết nối và khai thác dữ liệu đô thị,
ứng dụng công nghệ số và trí tuệ nhân tạo để nâng cao năng lực dự báo, điều
hành và giải quyết các vấn đề đô thị.
Thứ
tư, đổi mới phương thức quản trị đô thị phù hợp với mô hình chính quyền địa
phương hai cấp.
Thứ
năm, đổi mới cơ chế huy động và sử dụng nguồn lực cho phát triển đô thị.
Chia sẻ về đổi mới mô hình tăng trưởng đô thị Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ông Trần
Quốc Thái, Cục trưởng Cục Phát triển đô thị, cho biết trong những năm qua, hệ
thống đô thị của Việt Nam đã không ngừng phát triển, khẳng định vai trò thế ở
trong nước, cũng như khu vực và trên thế giới.
Trên
cơ sở các quan điểm chỉ đạo Trung ương, quy hoạch hệ thống đô thị và nông thôn
đã được ban hành và kế hoạch phát triển hệ thống đô thị của các địa phương, ông
Thái nhấn mạnh các nhiệm vụ, giải pháp cần được triển khai thực hiện trong thời
gian tới. Trong quá trình triển khai các nhóm nhiệm vụ, giải pháp ưu tiên, cần tiếp tục thực hiện ba trọng tâm cho giai đoạn từ nay đến năm 2030, gồm:
Phát triển đô thị thông minh; phát triển đô thị ứng phó với biến đổi khí hậu; cải
tạo, tái thiết đô thị gắn với TOD.
Trước thềm Hội nghị COP31 tại Thổ Nhĩ Kỳ, Ấn Độ gia tăng phản đối Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (Carbon Border Adjustment Mechanism- CBAM) của Liên minh châu Âu (EU), trong khi nhiều nền kinh tế khác cũng tìm cách phản đối hoặc đàm phán miễn trừ. Tranh cãi này đang đặt EU trước bài toán khó: vừa bảo vệ tham vọng khí hậu, vừa tránh nguy cơ châm ngòi một cuộc xung đột thương mại mới…
Đại biểu Quốc hội đề nghị bổ sung nguyên tắc: các dự án ven biển, lấn biển, xây dựng công trình trên biển phải xác định rõ lối tiếp cận biển công cộng, bãi biển công cộng và không gian sinh hoạt truyền thống của cộng đồng; không được biến quyền tiếp cận hợp pháp của người dân thành quyền phụ thuộc vào sự cho phép của chủ đầu tư...
Làm rõ quyền hưởng lợi của các chủ thể tham gia tạo ra kết quả giảm phát thải, hấp thụ khí nhà kính, bảo đảm thống nhất với pháp luật về lâm nghiệp; bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các bên, tạo động lực cho người dân, cộng đồng tham gia bảo vệ rừng...
Chương trình dự án nghiên cứu giải trình tự hệ gene 1.000 giống lúa Việt Nam hướng tới xây dựng cơ sở dữ liệu di truyền quy mô lớn, làm nền tảng cho bảo tồn nguồn gene bản địa và chọn tạo giống mới có chất lượng cao, thích ứng với biến đổi khí hậu và giảm phát thải…
Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 10 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều con số kỷ lục. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu lần đầu tiên vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký đạt mức cao nhất kể từ năm 2009 đến nay (54,85 tỷ USD), vốn FDI thực hiện cũng đạt mức cao nhất trong 5 năm qua (24,08 tỷ USD). Cùng với sự phục hồi mạnh mẽ của sản xuất công nghiệp, bán lẻ và du lịch, nền kinh tế Việt Nam đang chứng tỏ đà tăng trưởng vững chắc…
Lần đầu tiên kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 1.000 tỷ USD, vốn FDI đăng ký lập đỉnh cao nhất trong vòng 17 năm qua, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng. Tuy nhiên, diện tích gieo cấy lúa lại giảm tới hàng chục nghìn ha, bình quân vẫn còn tới 18,2 nghìn doanh nghiệp rút lui khỏi thi trường. Đó là những điểm nhấn trong tổng quan bức tranh kinh tế Việt Nam 10 tháng qua.
Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...
Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...