Trên dây chuyền may, một chiếc áo thun cotton thông thường cần 8 phút công lao động trực tiếp cho toàn bộ các công đoạn may, theo ông Michael Hofmannrichter, đồng sáng lập kiêm Giám đốc điều hành công ty khởi nghiệp về robot dệt may Silana. Con số này phản ánh tổng lượng lao động của con người trên một dây chuyền sản xuất, tùy theo số người tham gia.
Trong nhiều thập kỷ, ngành thời trang đã tìm cách rút ngắn từng giây may. Tuy nhiên, công đoạn này chỉ chiếm một phần nhỏ trong quãng thời gian dài hơn nhiều để đưa một chiếc áo ra cửa hàng. Từ thiết kế, tìm nguồn vải, duyệt mẫu, đặt hàng đến phân phối ra thị trường có thể kéo dài từ sáu đến chín tháng. Giờ đây, ngành này còn phải chạy đua với một yếu tố khác: mất bao lâu để đưa một sản phẩm trở lại kệ hàng sau khi bị khách trả lại.
Trong chuỗi cung ứng tuyến tính lẫn tuần hoàn, thời gian đều là tiền bạc, nhưng mối quan hệ giữa tốc độ và tính bền vững không đơn giản. Việc ra quyết định nhanh hơn và sản xuất linh hoạt hơn giúp các thương hiệu giảm lượng hàng tồn, bổ sung nhanh những mẫu bán chạy và tránh được một phần tình trạng giảm giá, tồn kho vốn thường được tính sẵn trong dự báo theo mùa.
Tuy nhiên, hiệu quả càng cao thì con người thường càng sản xuất nhiều hơn. Chính hạ tầng giúp sản xuất thời trang nhanh hơn cũng có thể dẫn đến nhiều mẫu mã hơn, các đợt ra mắt dày hơn và tổng sản lượng lớn hơn, qua đó làm suy yếu lập luận về lợi ích bền vững của sản xuất nhanh.
Trong hoạt động tìm nguồn cung ứng hàng may mặc, “chi phí mỗi phút” không có nghĩa là số sản phẩm làm ra trong 60 giây. Đó là mức phí nhà máy tính cho một phút sản xuất, đã bao gồm chi phí quản lý chung và lợi nhuận.
“Bài toán khó của ngành thời trang chính là rủi ro - hay nói cách khác là cái giá phải trả rất đắt nếu đưa ra quyết định sai lầm,” John Thorbeck, nhà sáng lập kiêm chủ tịch công ty tư vấn chuỗi cung ứng Change Capital, nhận định.
Đối với nhà máy, các đơn hàng nhỏ đồng nghĩa với việc phải thiết lập dây chuyền thường xuyên hơn và dành ít thời gian hơn cho sản xuất. Nếu mức giá không bù đắp được khoản này, hoặc các mẫu bán tốt không dẫn đến đơn đặt lại với số lượng lớn hơn, thì sự linh hoạt của thương hiệu sẽ phải trả bằng chi phí của nhà cung cấp.
Theo ông Thorbeck, tiềm năng tiết kiệm thời gian lớn nhất không nằm ở thời gian may mà ở khâu mua hàng. Một số thương hiệu đang đẩy mạnh việc cam kết trước về nguyên liệu và năng lực sản xuất, đồng thời hoãn quyết định cuối cùng về màu sắc, số lượng theo mã hàng (SKU) hoặc phân bổ theo thị trường. Cách làm này giúp nhà cung cấp có tầm nhìn rõ hơn, trong khi thương hiệu có thể phản ứng với tín hiệu nhu cầu mới nhất, từ đó có thể rút ngắn hàng tháng thời gian từ thiết kế đến thị trường.
Mô hình “Thử nghiệm và đặt hàng lại tự động quy mô lớn” (Large-scale Automated Test and Reorder) của Shein đưa nguyên tắc này đến mức cực đoan. Theo công ty, sản phẩm mới được tung ra theo từng lô khoảng 100 đến 200 chiếc, sau đó dữ liệu nhu cầu theo thời gian thực sẽ quyết định mẫu nào được bổ sung, đôi khi chỉ trong vài ngày.
Theo TS. Sheng Lu, giáo sư kiêm giám đốc đào tạo sau đại học ngành thời trang và may mặc tại Đại học Delaware, ưu điểm của hệ thống này là rút ngắn thời gian chờ ở các khâu thiết kế, đặt hàng, sản xuất và bổ sung hàng, thay vì gây áp lực buộc công nhân may nhanh hơn.
Năm 2025, nhà bán lẻ Asos cho biết chương trình Test & React của hãng, có thể đưa sản phẩm từ thiết kế đến website chỉ trong ba tuần, chiếm hơn 20% doanh số hàng thương hiệu riêng. Công ty đã giảm lượng hàng tồn kho xuống khoảng 400 triệu bảng Anh, thấp hơn khoảng 60% so với đỉnh năm 2022, trong khi biên lợi nhuận gộp điều chỉnh tăng 370 điểm cơ bản so với cùng kỳ năm trước.
Asos cho rằng sự cải thiện này đến từ quá trình tái cơ cấu rộng hơn, gồm doanh số bán nguyên giá cao hơn, ít đợt giảm giá hơn và tồn kho thấp hơn, và không tách riêng Test & React là nguyên nhân duy nhất.
Tuy nhiên, sản xuất theo lô nhỏ không nhất thiết làm giảm chi phí, bởi chi phí phát triển và thiết lập được chia cho ít sản phẩm hơn. Việc hoàn thiện hồ sơ kỹ thuật, chuẩn bị sơ đồ trải vải, may mẫu, tính giá thành và đặt vải có thể tiêu tốn nhiều nguồn lực hơn chính đợt sản xuất.
Để bài toán kinh tế khả thi, các thương hiệu và nhà máy cần có thỏa thuận cân bằng giữa các đơn thử nghiệm nhỏ và các đơn đặt lại lớn hơn, đồng thời chia sẻ rủi ro với những đợt chạy thử không đạt mức tiêu thụ đủ để mở rộng. Đây là lúc các thực hành mua hàng có đạo đức trở nên then chốt.
Chỉ số chi phí sản xuất trong mỗi phút khó có thể biến mất khỏi các phép tính sản xuất hiện nay. Các nhà sản xuất cần biết chính xác chi phí để đưa một sản phẩm từ nguyên liệu đầu vào đến thành phẩm, còn các thương hiệu sẽ luôn đòi hỏi mức giá cạnh tranh.
Tuy nhiên, một chỉ số được thiết kế cho một công đoạn sản xuất không phải thước đo tốt nhất để đánh giá cả hệ thống. Độ chính xác của dự báo, tỷ lệ bán hết ở giá đầy đủ, vòng quay hàng tồn kho, vốn lưu động, độ tin cậy của nhà cung cấp, mức lương đủ sống, tổng sản lượng tuyệt đối, giá trị thu hồi và cách xử lý cuối cùng đối với sản phẩm đều phơi bày những chi phí mà một phút may giá rẻ có thể che khuất.
Lợi ích bền vững phụ thuộc vào việc các doanh nghiệp làm gì với khoảng thời gian tiết kiệm được. Các hệ thống nhanh hơn có thể bảo toàn giá trị, nhưng những lợi ích đó biến mất khi hiệu quả cao hơn chỉ để thúc đẩy sản lượng nhiều hơn. Việc phê duyệt nhanh hơn có thể tránh cho doanh nghiệp phải chịu rủi ro tồn kho trong nhiều tháng.
Việc bổ sung hàng nhanh hơn có thể thay thế đơn hàng số lượng lớn mang tính đầu cơ bằng một cam kết được tính toán hợp lý. Thêm một phút tân trang có thể cứu một sản phẩm trước khi nó lỡ mùa bán. Ngược lại, cắt giảm lao động trên một chiếc áo thun chẳng mang lại mấy ý nghĩa về bền vững nếu phần tiết kiệm đó được dùng để ra nhiều mẫu hơn, siết chặt yêu cầu với nhà cung cấp và đẩy sản lượng tăng cao.
Nỗi ám ảnh của ngành thời trang với tốc độ, sự mới mẻ và giá rẻ thường được xem là đặc điểm bất biến của thị trường. Nhưng đó đều là những lựa chọn, và gọi tên chúng là lựa chọn chính là bước đầu tiên để đưa ra những lựa chọn khác.
Trong nền kinh tế xa xỉ, có những sản phẩm không được tạo ra để bán đại trà. Chúng tồn tại nhằm khẳng định năng lực chế tác, duy trì di sản và củng cố vị thế thương hiệu trong những không gian mà sự hiện diện đôi khi có giá trị hơn cả doanh thu trực tiếp…
Sau nhiều năm hợp tác với khách sạn và nhà hàng, gần đây các thương hiệu thời trang đang hướng đến một lĩnh vực dịch vụ mới, bất ngờ hơn để hợp tác: các cửa hàng tạp hóa cao cấp...
Gần đây, niềm tin của công chúng vào chất lượng không khí và nước sinh hoạt đô thị đang xuống mức thấp kỷ lục, do nhận thức ngày càng tăng về "hóa chất vĩnh cửu" và nỗi lo âu sinh ra từ thói quen lướt tin tức tiêu cực mỗi ngày...
Sau một năm không còn người sáng lập, Giorgio Armani đứng trước bài toán khó nhất của một thương hiệu xa xỉ độc lập: làm thế nào để tiếp tục tăng trưởng mà không đánh mất thứ đã khiến mình trở nên khác biệt…
Các dạng thức bổ sung collagen tiện lợi đang thay đổi thói quen chăm sóc sức khỏe của người tiêu dùng, thúc đẩy tính nhất quán trong chăm sóc sức khỏe...
Chuyển đổi xanh ngành lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long không chỉ đòi hỏi giảm phát thải, nâng cao chất lượng hạt gạo mà còn phải bảo đảm sinh kế và phân chia lợi ích công bằng. Dự án GORICE hướng tới phát triển chuỗi giá trị lúa gạo bền vững, đồng thời trao quyền cho phụ nữ, người dân tộc thiểu số và các nhóm yếu thế tham gia, hưởng lợi bình đẳng.
Trưa ngày 4/11, tại Họp báo Chính phủ thường kỳ, việc điều chỉnh thuế TTĐB đối với xăng về 0% và giảm giá bán lẻ điện 2% tác động như thế nào tới CPI; kịch bản điều hành giá để kiểm soát CPI theo mục tiêu hai tháng cuối năm... được Lãnh đạo Bộ Tài chính làm rõ.