
Vấn đề chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội đã ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của người lao động. Do vậy Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) đã bổ sung quy định xử lý tình trạng này.
Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan trong xác định và quản lý đối tượng thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội. Quy định cụ thể hành vi chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm.
Theo đó, Luật quy định chậm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp là hành vi của người sử dụng lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây:
(i) Chưa đóng hoặc đóng chưa đầy đủ số tiền phải đóng theo hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp đã đăng ký, kể từ sau ngày đóng bảo hiểm xã hội chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật này, hoặc kể từ sau ngày đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
Theo khoản 4 Điều 34, thời hạn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất đối với người sử dụng lao động được quy định như sau:
Ngày cuối cùng của tháng tiếp theo đối với phương thức đóng hằng tháng.
Ngày cuối cùng của tháng tiếp theo ngay sau chu kỳ đóng đối với phương thức đóng 3 tháng một lần, hoặc 6 tháng một lần.
(ii) Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này.
Theo khoản 1 Điều 28, người sử dụng lao động có trách nhiệm kê khai và nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc của người lao động, cho cơ quan Bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày người lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
(iii) Không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày hết thời hạn phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
(iv) Thuộc trường hợp không bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp.
Trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp là hành vi của người sử dụng lao động thuộc một trong các trường hợp sau đây, để không đóng hoặc đóng không đầy đủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động:
(i) Sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 28 của Luật này, mà người sử dụng lao động không đăng ký, hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc.
(ii) Sau 60 ngày kể từ ngày hết thời hạn phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp, mà người sử dụng lao động không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp.
(iii) Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc thấp hơn quy định tại khoản 1 Điều 31 của Luật này.
Theo khoản 1 Điều 31, người sử dụng lao động hằng tháng đóng 3% trên tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vào quỹ ốm đau và thai sản; 14% vào quỹ hưu trí và tử tuất.
(iv) Đăng ký tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp thấp hơn quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp.
(v) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm xã hội bắt buộc sau 60 ngày, kể từ ngày đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chậm nhất quy định tại khoản 4 Điều 34 của Luật này, và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc.
(vi) Không đóng hoặc đóng không đầy đủ số tiền đã đăng ký bảo hiểm thất nghiệp sau 60 ngày, kể từ ngày đóng bảo hiểm thất nghiệp chậm nhất theo quy định của pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp, và đã được cơ quan có thẩm quyền đôn đốc.
(vii) Các trường hợp khác bị coi là trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Chính phủ.
Việc phân định rõ hành vi chậm đóng với hành vi trốn đóng để nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả của Luật, bảo đảm hài hoà với quy định của Bộ luật Hình sự và Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Đồng thời, Luật mới đã sửa đổi, bổ sung nhiều biện pháp xử lý, chế tài xử lý tình trạng chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội như:
Quy định cụ thể biện pháp xử lý đối với hành vi chậm đóng, và trốn đóng bảo hiểm xã hội.
Đó là, bắt buộc đóng đủ số tiền bảo hiểm xã hội chậm đóng, trốn đóng; nộp số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp chậm đóng, trốn đóng, và số ngày chậm đóng, trốn đóng.
Xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; không xem xét trao tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.
Riêng đối với hành vi trốn đóng, còn có biện pháp mạnh là truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, để đảm bảo quyền lợi của người lao động, Luật đã bổ sung trách nhiệm của người sử dụng lao động phải bồi thường cho người lao động, nếu không tham gia, hoặc tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc không đầy đủ, không kịp thời, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động.
Các quy định này nhằm bảo đảm hơn nữa quyền lợi chính đáng, hợp pháp của người lao động, góp phần giảm tình trạng chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội.
Theo báo cáo tiếp thu, giải trình và chỉnh lý dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi), Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho biết để bảo đảm tránh chồng chéo, dự thảo Luật đã bỏ quy định áp dụng các biện pháp tạm hoãn xuất cảnh theo quy định của pháp luật nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam, và xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam.
Bên cạnh đó, đã quy định trách nhiệm của cơ quan thanh tra trong việc xử lý việc chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội.
Theo đó, cơ quan Bảo hiểm xã hội gửi thông tin về người sử dụng lao động chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp đến cơ quan quản lý Nhà nước về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, và cơ quan thanh tra có liên quan, để xem xét xử lý theo thẩm quyền
Về cơ chế giải quyết chế độ hưu trí, tử tuất đối với người lao động trong trường hợp người sử dụng lao động không còn khả năng đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, sau khi tiếp thu ý kiến đại biểu, ý kiến của Chính phủ, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo đưa vào dự thảo Nghị quyết của Kỳ họp thứ 7 nội dung này.
Theo đó, giao Chính phủ quy định cụ thể về đối tượng, điều kiện, mức hỗ trợ, trình tự, thủ tục giải quyết chế độ hưu trí, tử tuất.
Nguồn kinh phí thực hiện được lấy từ số tiền bằng 0,03%/ngày tính trên số tiền bảo hiểm xã hội chậm đóng, trốn đóng vào Quỹ bảo hiểm xã hội.
Việc rà soát tập trung vào các lĩnh vực dược phẩm, thiết bị y tế, an toàn thực phẩm, khám chữa bệnh và bảo hiểm y tế. Bộ Y tế nhấn mạnh không để những bất cập trong quản lý hoặc thực thi công vụ gây khó khăn, phát sinh chi phí bất hợp lý, ảnh hưởng quyền lợi của người dân và hoạt động hợp pháp của doanh nghiệp...
Làm việc với Bộ Nội vụ về xây dựng Đề án cải cách chính sách tiền lương và bảo hiểm xã hội, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh, tính linh hoạt và khả năng thích ứng trong bối cảnh mới của đất nước là yêu cầu quan trọng đối với chính sách trong lĩnh vực này...
Theo Ngân hàng Thế giới, hơn 90% người lao động trong 5.000 người được khảo sát coi việc làm trên nền tảng số là nguồn thu nhập chính, song chỉ khoảng 1/5 có đóng bảo hiểm xã hội...
Các doanh nghiệp hiện nay không chỉ tập trung vào việc nâng cao mức lương, mà còn chú trọng đến các chính sách phúc lợi và tiêu chuẩn tuyển dụng để thu hút lao động…
Ngành Bảo hiểm xã hội nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt trong kiểm soát chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế là kiểm soát đúng, có căn cứ, dựa trên dữ liệu và không kiểm soát chi bằng mọi giá. Mục tiêu quan trọng không chỉ là sử dụng Quỹ bảo hiểm y tế hiệu quả, đúng quy định, mà còn bảo đảm quyền lợi chính đáng của người tham gia...
Để du lịch chăm sóc sức khỏe Việt Nam không dừng lại ở tiềm năng, việc đồng bộ thể chế, tiêu chuẩn chất lượng và phát triển nguồn nhân lực chuyên sâu là yêu cầu cấp thiết. Đây là những yếu tố quan trọng để hình thành lợi thế cạnh tranh bền vững và tạo dựng bản sắc riêng cho dòng sản phẩm này…
Giữa núi rừng biên giới Yên Khương, đêm Trung thu năm nay trở nên đặc biệt hơn khi hơn 1.000 phần quà được trao tới các em học sinh, cùng những ước mơ nhỏ bé được lắng nghe và chắp cánh.