
Giá vàng trong nước và thế giới
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Thứ Năm, 01/01/2026
Nguyễn Đình Bích
10/12/2007, 09:15
Việc kiềm chế tăng giá trong thời gian tới tùy thuộc rất nhiều vào việc có đẩy mạnh sản xuất nông sản được hay không
Với việc giá tiêu dùng liên tục trong nhiều tháng tăng vượt dự báo và cả năm nay sẽ tăng cao hơn nhiều so với tốc độ tăng GDP, chắc chắn các nhà quản lý không khỏi “đau đầu”, còn giới truyền thông cũng đã tốn không ít giấy mực.
Tuy nhiên, bản thân việc không thành công trong kiềm chế “con ngựa bất kham” giá cả cũng đủ cho thấy rằng, cách tiếp cận của chúng ta có phần vẫn chưa trúng. Do vậy, vấn đề đặt ra là phải “bắt mạch đúng bệnh” và từ đó có “thuốc chữa trị” hiệu quả.
“Thủ phạm” chính gây lạm phát cao
Trước hết, các số liệu thống kê về giá tiêu dùng của nước ta cho thấy, giá của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống càng ngày càng giữ vai trò “thủ phạm” chính dẫn đến giá tiêu dùng tăng mạnh trong 11 tháng qua.
Cụ thể, ở thời điểm tháng 7, tuy chỉ chiếm 42,85% trong “rổ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng xã hội”, nhưng do giá của nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng mạnh 8,50%, cho nên đã chiếm 58,84% trong tổng mức tăng 6,19% của giá tiêu dùng, trong khi giá của 9 nhóm hàng hoá và dịch vụ chiếm tỷ trọng 57,15% do chỉ tăng 4,46%, cho nên chỉ chiếm 41,16%.
Tiếp theo, liên tục trong 4 tháng thực hiện quyết liệt các giải pháp kiềm chế giá cả thị trường gần đây, do các nhóm hàng này vẫn tiếp tục xu hướng tăng giá như vậy, cho nên tỷ trọng tương ứng của chúng trong tổng mức tăng của giá tiêu dùng lần lượt là: tháng 8: 59,79% và 40,21%; tháng 9: 61,87% và 38,13%; tháng 10: 62,18% và 37,82%; còn tháng 11 đạt kỷ lục 63,84% và 36,16%.
Thực tế đó cho thấy hai điều rất quan trọng sau đây.
Thứ nhất
, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống ngày càng giữ vai trò chủ yếu trong việc đẩy giá tiêu dùng tăng cao trong những tháng qua, và ngược lại, cho dù chiếm tỷ trọng lớn hơn gấp 1,33 lần, nhưng 9 nhóm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng giữ vai trò ngày càng giảm.
Thứ hai
, tổ hợp các giải pháp kiềm chế giá cả thị trường đã được áp dụng trong 4 tháng qua tỏ ra ít tác dụng hơn đối với nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống so với 9 nhóm hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng còn lại.
Tất cả những điều nói trên có nghĩa là, việc kiềm chế giá cả thị trường trong thời gian tới có thành công hay không là tùy thuộc rất nhiều vào việc có đẩy mạnh sản xuất nông sản được hay không.
Cơ hội vàng để phát triển nông nghiệp
Do vẫn còn là một nước nông nghiệp, lại là một nước xuất khẩu nhiều loại nông sản với vị thế cường quốc thế giới và bước vào giai đoạn hội nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế quốc tế, đó chính là thời cơ vàng đối với nền nông nghiệp nước ta trong những năm đầu gia nhập WTO sắp tới.
Trong khi đó, xuất khẩu hàng nông lâm sản và thủy sản trong những năm qua lại đạt được những kết quả hết sức đáng mừng, cho nên đương nhiên nguồn cung dành cho thị trường trong nước sẽ bị ảnh hưởng. Bởi lẽ, nếu như tổng kim ngạch xuất khẩu hàng nông lâm sản và thủy sản năm 2000 chỉ mới đạt 4,197 tỷ USD, thì năm 2007 này gần như cầm chắc sẽ tăng đại vọt lên trên 12 tỷ USD, tức là đã đạt được nhịp độ tăng bình quân khoảng 16,20%/năm và cao gấp 4,32 lần so với tốc độ tăng trưởng của lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản.
Rõ ràng, trong điều kiện nguồn cung chỉ tăng thấp, thậm chí còn giảm như vậy, việc giá nông sản thực phẩm tăng đại nhảy vọt là điều hiển nhiên. Trong điều kiện như vậy, vấn đề đặt ra không chỉ trước mắt, mà cả về lâu dài đối với nền kinh tế nước ta là chẳng những phải, mà còn là cơ hội vàng để đầu tư thỏa đáng cho sản xuất nông nghiệp nói chung, đặc biệt là cho sản xuất nông sản thực phẩm.
Thế nhưng, hiện có nhiều động thái cho thấy, khu vực nông nghiệp, nông thôn vẫn tiếp tục nằm “ngoài rìa làn sóng phát triển” của đất nước.
Bởi lẽ, khu vực này hiện vẫn chiếm gần 80% diện tích đất đai, 72% lao động, nhưng hàng năm chỉ tạo ra khoảng 20% GDP; 80% lao động nông thôn không có chuyên môn kỹ thuật; chỉ có 25% nông dân tiếp cận được với thị trường, 75% còn lại không hề biết về những thách thức, khó khăn khi hội nhập; sản xuất nông nghiệp phân tán, manh mún trên khoảng 70 triệu thửa ruộng; hơn 90% sản phẩm nông nghiệp còn ở dạng thô...
Có thể khẳng định một cách chắc chắn rằng, thực trạng này bắt nguồn từ đầu tư cho nông nghiệp trong thời gian qua vừa quá nhỏ, vừa chắp vá, phân tán. Theo số liệu của Bộ Tài chính, trong 5 năm qua, tổng vốn đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn chỉ đạt trên 113 nghìn tỷ đồng, chỉ chiếm 8,7% vốn đầu tư của cả nước và chỉ đáp ứng được 17% nhu cầu.
Trong khi đó, làn sóng FDI đang ồ ạt đổ vào nền kinh tế nước ta hiện nay cũng “lãng quên” khu vực này, bởi tính đến tháng 6/2007, khu vực nông nghiệp chỉ chiếm 10,12% số dự án còn hiệu lực (758/7.490 dự án) với số vốn đăng ký chỉ chiếm 5,62% (3,78 tỷ USD); vốn thực hiện 6,33% (gần 1,9 tỷ USD), còn nếu chỉ tính trong nửa đầu năm nay thì số dự án FDI đầu tư vào khu vực này chỉ chiếm vỏn vẹn 2%.
Do vậy, mục tiêu huy động 1,5 tỷ USD vốn đầu tư FDI cho khu vực này trong giai đoạn 2006-2010 xem ra cũng khó có thể đạt được. Trong bối cảnh như vậy, vấn đề tăng tốc đầu tư cho khu vực nông thôn, nông nghiệp từ nguồn vốn trong nước, đặc biệt là vốn đầu tư của Nhà nước đặt ra như một tất yếu.
Rõ ràng, với một nền kinh tế đang tăng trưởng 8,5%/năm và rất có thể đạt ngưỡng hai chữ số trong một tương lai không xa, việc huy động vốn của nước ta đang có nhiều thuận lợi: lượng vốn tăng; các kênh huy động cũng tăng và đặc biệt là nguồn vốn trong dân còn rất lớn, vị tất chúng ta lại phải trông đợi vào vốn FDI, kể cả vốn ODA.
Làm được như vậy, không những sốt nóng giá lương thực, thực phẩm nói riêng và nông sản nói chung chỉ là vấn đề nhỏ chắc chắn sẽ được giải quyết, mà cái được còn lớn hơn gấp bội là tạo ra nền tảng vững chắc để đất nước có thể phát triển bền vững trong những năm sắp tới.
Năm 2025, tổng thu ngân sách nhà nước của Hà Nội đạt 704.579 tỷ đồng, bằng 137,1% dự toán; nguồn thu nội địa tiếp tục giữ vai trò chủ lực với 662.281 tỷ đồng. Cùng đó, tổng chi ngân sách tăng 46% so với cùng kỳ, chi đầu tư phát triển hoàn thành 101,6% dự toán được giao…
Nghị định số 365/2025/NĐ-CP cụ thể hóa hệ thống tiêu chí đánh giá, xếp loại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo mức độ hoàn thành nhiệm vụ và hiệu quả sử dụng vốn. Khung đánh giá này nhằm tạo cơ sở thống nhất cho công tác giám sát và nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong quản lý, đầu tư vốn nhà nước…
Ngân hàng TMCP Quốc Dân (NCB) vừa chính thức mở rộng tài trợ sang lĩnh vực hàng không, với việc tài trợ vốn cho chiếc tàu bay Airbus A321NX mới nhất của hãng hàng không Sun PhuQuoc Airways. NCB cũng sẽ hợp tác để giúp hãng “hàng không nghỉ dưỡng” đầu tư các dự án nâng cấp trọng điểm trong năm 2026.
Đề cập đến định hướng điều hành chính sách tiền tệ năm 2026, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước xác định trọng tâm “ổn định vĩ mô và kiểm soát lạm phát”. Đây được xem là điều kiện tiên quyết trong bối cảnh nhà điều hành phải giải quyết nhiều thách thức đồng thời: cung cầu ngoại tệ thiếu ổn định, mặt bằng lãi suất có xu hướng tăng, thanh khoản không đồng đều giữa các tổ chức...
Ngày 31/12, Nam A Bank và Trung tâm Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 tại TP.HCM (HCMC C4IR) đã chính thức ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược giai đoạn 2025-2030. Việc ký kết này được kỳ vọng sẽ biến nguồn lực kiều hối thành "động lực kép" - vừa là tài lực, vừa là nhân lực - để phát triển kinh tế xanh và công nghệ cao tại TP.HCM…
Tiêu & Dùng
Thuế đối ứng của Mỹ có ảnh hướng thế nào đến chứng khoán?
Chính sách thuế quan mới của Mỹ, đặc biệt với mức thuế đối ứng 20% áp dụng từ ngày 7/8/2025 (giảm từ 46% sau đàm phán), có tác động đáng kể đến kinh tế Việt Nam do sự phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Mỹ (chiếm ~30% kim ngạch xuất khẩu). Dưới đây là phân tích ngắn gọn về các ảnh hưởng chính: