Chuyển đổi xanh, giảm phát thải ngành lạnh, quản lý môi chất theo vòng đời
NNhĩ Anh
Chọn cỡ chữ
Theo lộ trình, Việt Nam thực hiện mục tiêu cắt giảm 67,5% lượng tiêu thụ cơ sở HCFC trong giai đoạn 2025-2029, tiến tới giảm 97,5% từ năm 2030 và loại trừ hoàn toàn vào năm 2040. Từ thực tế lượng thiết bị đang sử dụng HCFC-22 hiện nay với nhu cầu môi chất lạnh cho sửa chữa, bảo dưỡng vẫn còn lớn trong khi nguồn mới bị hạn chế đặt ra bài toán thu hồi, tái chế, tái sử dụng, quản lý môi chất theo vòng đời. Tính toán cho thấy Việt Nam sẽ thiếu hụt khoảng 1.000 tấn HCFC-22 vào năm 2030…
vVệc chuyển đổi công nghệ, quản lý môi chất lạnh theo toàn bộ vòng đời, từ sản xuất, nhập khẩu, sử dụng đến thu hồi, tái chế, tái sinh và xử lý cuối cùng là giải pháp quan trọng. Ảnh: Cục BĐKH
Thực tế này được chỉ ra tại Hội thảo
“Thúc đẩy loại trừ HCFC và giảm dần HFC trong lĩnh vực lạnh và điều hòa
không khí tại Việt Nam” do Cục Biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi
trường) phối hợp với Hội Khoa học Kỹ thuật Lạnh và Điều hòa không khí Việt Nam
tổ chức ngày 24/10/2026. Đây là một trong những hoạt động nâng cao nhận
thức và tăng cường năng lực thuộc Dự án “Quản lý bền vững các chất được kiểm
soát theo Nghị định thư Montreal” (Dự án SMS-MP), với sự hỗ trợ của Chương
trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP).
DỰ KIẾN THIẾU HỤT KHOẢNG 1.000 TẤN MÔI CHẤT LẠNH HCFC-22 VÀO
NĂM 2030
Việt Nam có trách nhiệm cùng các
quốc gia đang phát triển trong khu vực có lộ trình loại trừ các chất HCFC. Theo
lộ trình, đến năm 2030 lượng tiêu thụ các chất HCFC sẽ giảm 97,5% so với mức
tiêu thụ cơ sở, đồng nghĩa với việc chỉ còn duy trì tối đa 2,5% lượng tiêu thụ (tương
đương với 100 tấn hạn ngạch nhập khẩu mỗi năm).
Đây là con số rất nhỏ bởi theo bà Nguyễn Đặng Thu Cúc, Phó Trưởng
phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ô-dôn, Cục Biến đổi khí hậu, thực tế hiện nay lượng thiết bị đang sử dụng
HCFC-22 ở Việt Nam vẫn còn rất lớn. Nhu cầu môi chất lạnh HCFC-22 cho sửa chữa,
bảo dưỡng vẫn còn trong khi nguồn mới bị hạn chế đặt ra yêu cầu cần phải có
giải pháp cho thu hồi, tái chế, tái sử dụng nếu các thiết bị tồn tại sau năm
2030. Theo tính toán của đơn vị tư vấn sẽ có sự thiếu hụt khoảng 1.000 tấn
HCFC-22 vào năm 2030.
Lộ trình loại trừ các chất HCFC và giảm dần HFC. (Nguồn: Dự án SMS-MP, Cục Biến đổi khí hậu)
Đối với các chất HFC dù hiện nay chưa
vượt trần kiểm soát nhưng đến năm 2029 sẽ vượt quá mức tiêu thụ cơ sở nếu không
có các biện pháp tái chế, tái sử dụng các môi chất này.
Đánh giá lượng môi chất lạnh HCFC và
HFC tồn trữ, Cục Biến đổi khí hậu cho biết theo số liệu kiểm kê do đơn vị tư
vấn thực hiện, lượng môi chất tồn trữ trong các thiết bị tại Việt Nam ước tính
khoảng 49.072 tấn, tương đương 85,23 triệu tấn CO₂ quy đổi theo tiềm năng làm
nóng lên toàn cầu. Trong đó, điều hòa không khí dân dụng chiếm hơn 50% tổng
lượng môi chất tồn trữ.
Quy mô môi chất đang nằm trong các
thiết bị cho thấy dư địa đáng kể để giảm phát thải thông qua việc kiểm soát rò
rỉ, thu hồi và tái sử dụng.
Tuy nhiên, thực tế hiện nay, tỷ lệ
thu hồi môi chất lạnh khi thiết bị hết vòng đời còn ở mức thấp, chỉ đạt khoảng 0,1%. Việc thu hồi này hầu như
chỉ diễn ra ở một số ít doanh nghiệp có tính tuân thủ cao hoặc các tập đoàn có
vốn đầu tư nước ngoài.
QUẢN
LÝ MÔI CHẤT LẠNH THEO VÒNG ĐỜI LÀ MẮT XÍCH QUAN TRỌNG
Từ thực tế trên, các ý kiến tại hội
thảo cho rằng việc chuyển đổi công nghệ, quản lý môi chất lạnh theo toàn bộ
vòng đời, từ sản xuất, nhập khẩu, sử dụng đến thu hồi, tái chế, tái sinh và xử
lý cuối cùng là giải pháp quan trọng.
Theo ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục
trưởng Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong những năm qua, Việt
Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong thực hiện Nghị định thư Montreal
về các chất làm suy giảm tầng ô-dôn và đang tiếp tục triển khai lộ trình giảm
dần các chất HFC theo Bản sửa đổi, bổ sung Kigali.
Ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu. Ảnh: T. Anh
Một xu hướng ngày càng được quan tâm là quản lý môi chất lạnh theo toàn bộ vòng đời, từ sản xuất, nhập khẩu, sử dụng đến thu hồi, tái chế, tái sinh và xử lý. Cách tiếp cận này đòi hỏi sự tham gia của nhiều bên, đặc biệt là các doanh nghiệp, cơ sở dịch vụ và đội ngũ kỹ thuật viên; đồng thời mở ra những cơ hội mới về dịch vụ kỹ thuật và ứng dụng công nghệ trong ngành.
Tuy nhiên, để thực hiện thành công
các cam kết này, bên cạnh việc xây dựng và hoàn thiện chính sách, cần thúc đẩy
những thay đổi thực chất trong công nghệ, hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử
dụng, xử lý và quản lý môi chất lạnh.
Ông Hiếu cho rằng "lĩnh vực dịch vụ sửa chữa, bảo
dưỡng thiết bị lạnh và điều hòa không khí giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Việc
nâng cao năng lực kỹ thuật, áp dụng các thực hành tốt trong bảo dưỡng, phòng
ngừa rò rỉ, thu hồi và quản lý môi chất lạnh không chỉ góp phần giảm phát thải
mà còn nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và hỗ trợ quá trình chuyển đổi công
nghệ."
TS Tạ Quang Ngọc, Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Lạnh và Điều hòa không khí Việt Nam phát biểu tại hội thảo.
Từ thực tiễn ngành lạnh và điều hòa
không khí, TS Tạ Quang Ngọc, Chủ tịch Hội Khoa học Kỹ thuật Lạnh và Điều hòa
không khí Việt Nam cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý môi chất lạnh
theo vòng đời, coi đây là cơ sở để rà soát, đánh giá hiện trạng và có giải pháp
đồng bộ, kết nối giữa những bên liên quan, giữa cơ quan nhà nước với các doanh
nghiệp, cơ sở giáo dục nghề nghiệp, các chuyên gia, qua đó góp phần triển khai
hiệu quả công tác quản lý môi chất lạnh ở Việt Nam theo lộ trình.
BÀI
TOÁN CHUYỂN ĐỔI XANH HƯỚNG TỚI LÀM LẠNH BỀN VỮNG
Hiện nay, lộ trình quản lý, loại trừ
các chất có chứa trong thiết bị sản phẩm đã được nội luật hóa với các mốc thời
gian cụ thể.
Về nguyên tắc thực hiện thu gom, tái
chế, tái sử dụng, xử lý hiện đã được quy định cụ thể tại Nghị định số
06/2022/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 119/2025/NĐ-CP.
Theo đó,
bắt buộc thực hiện thu gom các chất được kiểm soát khi không còn sử dụng trong
thiết bị, sản phẩm; đồng thời khuyến khích thực hiện tái chế, tái sử dụng các
chất được kiểm soát sau khi thu gom. Trường hợp không thực hiện tái chế, tái sử
dụng các chất được kiểm soát, tổ chức phải xử lý để tiêu hủy theo quy định của
pháp luật về quản lý chất thải nguy hại. Hoạt động thu gom, vận chuyển, lưu
giữ, tái chế, tái sử dụng và xử lý các chất được kiểm soát được áp dụng theo
quy chuẩn quốc gia QCVN 76:2023/BTNMT.
Bà Nguyễn Đặng Thu Cúc, Phó Trưởng phòng Quản lý phát thải khí nhà kính và Bảo vệ tầng ô-dôn, Cục Biến đổi khí hậu chia sẻ về lộ trình loại trừ HCFC, giảm dần HFC và thông tin về dự án SMS-MP. Ảnh: A. Tuấn
Thông tin thêm về dự án quản lý bền
vững các chất được kiểm soát theo Nghị định thư Montreal (SMS-MP), bà Cúc cho
biết dự án được thiết kế với 3 hợp phần chính. Cụ thể gồm: giảm tiêu thụ các chất
HFC trong lĩnh vực sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị lạnh và điều hòa không khí di
động; Giảm tiêu thụ các chất HFC trong lĩnh vực sản xuất thông qua chuyển đổi
công nghệ, sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị lạnh và điều hòa không khí; Loại trừ
các chất HCFC trong lĩnh vực dịch vụ sửa chữa, bảo dưỡng thiết bị lạnh và điều
hòa không khí.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Huỳnh
Phước Cường, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH điều hòa GREE (Việt Nam), chia sẻ
những khó khăn và giải pháp thúc đẩy chuyển đổi công nghệ trong lĩnh vực lạnh
và điều hòa không khí hướng tới loại trừ HCFC và giảm dần HFC tại Việt Nam.
Bối cảnh
hiện nay đòi hỏi ngành lạnh Việt Nam phải chuyển đổi nhanh hơn, xanh hơn và bền
vững hơn. Tuy nhiên, doanh nghiệp này cũng chỉ ra những thách thức
trong quá trình chuyển đổi về công nghệ, chi phí đầu tư, nhân lực, nhận thức
thị trường, quản lý giám sát và đảm bảo an toàn.
Ông Huỳnh Phước Cường: Ngành lạnh Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết phải chuyển đổi nhanh hơn, xanh hơn và bền vững hơn. Biến đổi khí hậu, thực hiện cam kết quốc tế và yêu cầu chuyển đổi công nghệ đang đặt ra yêu cầu cấp bách cho ngành lạnh Việt Nam.
Ông Cường lưu ý rằng nếu không
chuyển đổi tốt sẽ gây hệ quả lớn, gây phát thải tăng, làm gia tăng tác động đến
biến đổi khí hậu, đi ngược mục tiêu phát triển bền vững. Không những thế điều
này cũng làm cho chi phí vận hành cao, tiêu tốn năng lượng, tăng chi phí bảo
trì, sửa chữa và rủi ro từ việc sử dụng hệ thống không phù hợp. Đặc biệt, việc
doanh nghiệp không chuyển đổi còn đối mặt với rỉ ro mất năng lực cạnh tranh;
sản phẩm, dịch vụ có thể không đáp ứng được quy định và mất cơ hội tại thị
trường nước ngoài.
Mặc dù thách thức, các chuyên gia đều khẳng định việc chuyển
đổi xanh lĩnh vực làm lạnh sẽ mang lại nhiều cơ hội để nâng cấp công nghệ, tăng
năng lực cạnh tranh, tiết kiệm năng lượng, phát triển nguồn nhân lực. Đặc biệt
điều này cũng mở ra các cơ hội thị trường trong bối cảnh nhu cầu và giải pháp
xanh, công trình xanh tăng nhanh, khách hàng ngày càng chú trọng môi trường.
Việc chuyển đổi xanh ngành này cũng đóng góp quan trọng cho mục tiêu khí hậu,
thực hiện cam kết quốc tế NetZero, thúc đẩy phát triển kinh tế xanh, bền vững
của Việt Nam.
Để thúc đẩy loại trừ HCFC và giảm dần HFC, cần hành động
đồng bộ từ chính sách- công nghệ- con người đến thị trường để chuyển đổi thành
công. Việt Nam đã và đang có hành động mạnh mẽ để loại trừ HCFC và giảm dần
HFC.
Ông Cường nhấn mạnh thông điệp ngành lạnh Việt Nam chuyển từ đáp ứng nhu
cầu làm lạnh sang cung cấp giải pháp làm lạnh bền vững. Với sự đồng hành của
công nghệ, chính sách, doanh nghiệp và cộng đồng, ngành lạnh Việt Nam sẽ tiến
tới tương lai làm lạnh xanh, an toàn, hiệu quả, bền vững.
Cũng tại hội thảo, các chuyên gia trong ngành đã chia sẻ
thực trạng và vai trò trong quản lý môi chất lạnh theo vòng đời từ lĩnh vực sửa
chữa bảo dưỡng thiết bị lạnh; xu hướng sử dụng môi chất lạnh mới, công nghệ làm
mát và khả năng áp dụng công nghệ tại Việt Nam; công cụ quản lý vòng đời các
chất được kiểm soát (RefNEXT)…
Nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt trong việc sửa đổi Luật Bảo vệ môi trường, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nêu rõ việc cắt thủ tục nhưng không cắt trách nhiệm; nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm; phân cấp nhưng không phân tán; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần. Nếu giảm tiền kiểm nhưng năng lực hậu kiểm không đáp ứng yêu cầu thì sẽ khó bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước về môi trường...
Việt Nam đang hoàn thiện khung pháp lý và đẩy mạnh các giải pháp quản lý môi chất lạnh theo Nghị định thư Montreal và Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, hướng tới thu hồi, tái chế xuyên suốt vòng đời thiết bị, góp phần bảo vệ tầng ozone và giảm phát thải khí nhà kính...
Dự thảo luật phân loại dự án theo mức độ rủi ro (thu gọn lại còn 3 nhóm) và mở rộng một số trường hợp không phải thực hiện đánh giá tác động môi trường (ĐTM). Tuy nhiên, cơ quan thẩm tra nhấn mạnh rằng việc cắt giảm thủ tục phải đi cùng với phân loại rủi ro chính xác, định lượng các yếu tố nhạy cảm và hậu kiểm hiệu quả...
Chính quyền Tổng thống Donald Trump đang tìm cách xem xét lại giấy phép của một dự án điện gió ngoài khơi tại bang Massachusetts, đánh dấu dự án thứ tư bị nhắm tới trong những tháng gần đây. Động thái này làm dấy lên lo ngại về nguy cơ gia tăng bất ổn đối với các dự án năng lượng và phá vỡ nỗ lực cải cách quy trình cấp phép tại Mỹ…
Để xử lý lượng tro bay từ các nhà máy điện rác, Sở Nông nghiệp và Môi trường Hà Nội cho biết trong giai đoạn trước mắt vẫn được chôn lấp nhưng về lâu dài, thành phố định hướng chuyển từ chôn lấp sang tái chế, tận dụng tro bay làm nguyên liệu phục vụ sản xuất vật liệu xây dựng. Chậm nhất sau 2 năm thực hiện phương án chôn lấp, các nhà máy phải đưa ra giải pháp kỹ thuật xử lý tro bay...
Theo dữ liệu mới nhất từ Hiệp hội Viễn thông tài chính liên ngân hàng toàn cầu (SWIFT), USD và euro chiếm tổng cộng 73,46% giá trị thanh toán qua mạng lưới này trong tháng 8/2026, chỉ còn hơn 1/4 dành cho tất cả các đồng tiền khác...
Luật Đất đai (sửa đổi), Luật Nhà ở (sửa đổi) đang được xem xét tại nghị trường Quốc hội. Đại biểu Quốc hội thẳng thắn đề nghị quy định trong Luật phải bảo đảm về giá đất bồi thường và tái định cư. Không để việc đơn giản hóa phương pháp định giá làm giảm mức bảo vệ người có đất bị thu hồi. Dân di dời đi tạm cư thì phải có thời hạn.
Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khoá XVI dự kiến kéo dài 28 ngày bắt đầu từ 17/10/2026. Kỳ họp với khối lượng công việc lớn, dự kiến xem xét, thông qua 43 luật, nghị quyết quy phạm pháp luật và quyết định...
Yêu cầu cốt lõi mà Nghị quyết 20 đặt ra là phải biến nước ta từ một quốc gia có biển thành một quốc gia biển mạnh, với kinh tế biển phát triển hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao, đồng thời giữ vững...
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...