Bước chuyển trong hành trình thực hiện Nghị định thư Montreal của Việt Nam: Từ bảo vệ tầng ozone đến chuyển đổi xanh

Từ loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone, Việt Nam đang bước sang giai đoạn giảm dần các chất có tác động lớn đến khí hậu, tăng cường quản lý các chất được kiểm soát trong toàn bộ vòng đời và thúc đẩy các giải pháp công nghệ bền vững hơn. Cùng với đó, hệ thống chính sách từng bước được hoàn thiện, vừa bảo đảm thực hiện các cam kết quốc tế, vừa định hướng thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh theo hướng xanh, bền vững...

Nghị định thư Montreal trở thành một trong những điều ước quốc tế về môi trường thành công nhất, với sự tham gia của các quốc gia trên thế giới. Ảnh: Vetmedia
Nghị định thư Montreal trở thành một trong những điều ước quốc tế về môi trường thành công nhất, với sự tham gia của các quốc gia trên thế giới. Ảnh: Vetmedia

Gần bốn thập kỷ kể từ khi Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozone được thông qua năm 1987, thế giới đã chứng kiến một trong những nỗ lực hợp tác môi trường thành công nhất trong lịch sử. Khoảng 99% các chất làm suy giảm tầng ozone được kiểm soát đã được loại bỏ, đưa tầng ozone vào quỹ đạo phục hồi.

Đằng sau thành công đó không chỉ là lượng hóa chất được cắt giảm, mà còn là một cơ chế hợp tác đặc biệt. Nghị định thư Montreal thiết lập lộ trình giảm dần việc sử dụng các chất được kiểm soát, đi kèm hệ thống quản lý sản xuất, nhập khẩu và tiêu thụ, cơ chế hỗ trợ tài chính cho chuyển đổi công nghệ và sự tham gia trực tiếp của doanh nghiệp.

TỪ BẢO VỆ TẦNG OZONE ĐẾN BẢO VỆ KHÍ HẬU

Đối với Việt Nam, hơn 30 năm thực hiện Nghị định thư Montreal cũng là quá trình liên tục hoàn thiện chính sách, nâng cao năng lực quản lý và chuyển đổi công nghệ.

Khi các nhà khoa học xác định một số hóa chất được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp là nguyên nhân chính gây suy giảm tầng ozone, cộng đồng quốc tế đã nhanh chóng hành động. Công ước Vienna về bảo vệ tầng ozone được thông qua năm 1985 và Nghị định thư Montreal ra đời năm 1987, thiết lập cơ chế kiểm soát và loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone trên toàn cầu.

Nghị định thư Montreal sau đó trở thành một trong những điều ước quốc tế về môi trường thành công nhất, với sự tham gia của các quốc gia trên thế giới.

Thông qua các lộ trình kiểm soát cụ thể cùng cơ chế hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các nước đang phát triển, khoảng 99% các chất làm suy giảm tầng ozone được kiểm soát đã được loại bỏ. Nếu các chính sách hiện hành tiếp tục được thực hiện đầy đủ, tầng ozone ở Nam Cực được dự báo có thể trở lại mức của năm 1980 vào khoảng năm 2066.

Thông qua các lộ trình kiểm soát cụ thể cùng cơ chế hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các nước đang phát triển, khoảng 99% các chất làm suy giảm tầng ozone được kiểm soát đã được loại bỏ. Ảnh minh họa. Ảnh: Minh Khuê
Thông qua các lộ trình kiểm soát cụ thể cùng cơ chế hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các nước đang phát triển, khoảng 99% các chất làm suy giảm tầng ozone được kiểm soát đã được loại bỏ. Ảnh minh họa. Ảnh: Minh Khuê

Thành công của Nghị định thư Montreal không dừng lại ở việc bảo vệ tầng ozone. Năm 2016, các Bên thông qua Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, đưa thêm mục tiêu giảm dần hydrofluorocarbon (HFC) - nhóm chất không làm suy giảm tầng ozone nhưng nhiều loại có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao và được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí. Đến nay, 174 trong tổng số 198 Bên tham gia Nghị định thư Montreal đã phê chuẩn, chấp thuận hoặc phê duyệt Bản sửa đổi, bổ sung Kigali.

Việc đưa HFC vào phạm vi kiểm soát vừa tiếp nối thành quả bảo vệ tầng ozone, vừa mở rộng đóng góp của Nghị định thư Montreal đối với ứng phó biến đổi khí hậu. Theo các đánh giá khoa học, nếu Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thực hiện đầy đủ, việc giảm dần HFC có thể giúp tránh khoảng 0,5°C mức tăng nhiệt độ trung bình toàn cầu vào cuối thế kỷ này.

Việt Nam tham gia Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal năm 1994. Trong hơn ba thập kỷ qua, Việt Nam đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ kiểm soát theo lộ trình của Nghị định thư, đồng thời từng bước xây dựng cơ chế quản lý, huy động nguồn lực và hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ, đưa các cam kết quốc tế vào thực tiễn.

VIỆT NAM HƠN BA THẬP KỶ CHỦ ĐỘNG VÀ TRÁCH NHIỆM

Năm 1995, Việt Nam đã ban hành Chương trình quốc gia loại trừ dần các chất làm suy giảm tầng ozone và thành lập Văn phòng Chương trình quốc gia về ozone năm 1996 để điều phối thực hiện. Các chương trình, dự án được triển khai theo từng giai đoạn, bám sát lộ trình kiểm soát và gắn mục tiêu loại trừ các chất được kiểm soát với chuyển đổi công nghệ tại doanh nghiệp.

Giai đoạn 1994-2004, các chương trình chuyển đổi đã hỗ trợ doanh nghiệp loại trừ CFC-11 và CFC-12, qua đó giảm phát thải hơn 3,5 triệu tấn CO₂ tương đương mỗi năm. Đến ngày 1/1/2010, Việt Nam hoàn thành nghĩa vụ loại trừ tiêu thụ CFC, halon và carbon tetrachloride (CTC); đồng thời loại trừ methyl bromide sử dụng ngoài mục đích kiểm dịch và khử trùng hàng xuất khẩu.

Sau đó, Việt Nam tiếp tục triển khai lộ trình loại trừ HCFC (Hydrofluorocarbon), khống chế mức tiêu thụ ở mức cơ sở từ năm 2013 và giảm 35% mức tiêu thụ cơ sở từ năm 2020, đáp ứng các mốc kiểm soát của Nghị định thư Montreal. Mức tiêu thụ HCFC giai đoạn 2025-2029 được kiểm soát không vượt quá 32,5% mức cơ sở.

Lộ trình loại trừ các chất HFC. Nguồn: Cục Biến đổi khí hậu
Lộ trình loại trừ các chất HFC. Nguồn: Cục Biến đổi khí hậu

Sau khi phê duyệt Bản sửa đổi, bổ sung Kigali, Việt Nam đã thiết lập cơ chế quản lý HFC và thực hiện phân bổ hạn ngạch nhập khẩu từ năm 2024, triển khai lộ trình giảm dần theo cam kết.

Theo thống kê của Ban thư ký ozone, quá trình thực hiện Nghị định thư Montreal tại Việt Nam đã góp phần ngăn ngừa phát thải khoảng 260 triệu tấn CO2 tương đương. Quan trọng hơn, qua từng giai đoạn, Việt Nam không chỉ đáp ứng các mốc kiểm soát mà còn từng bước nâng cao năng lực quản lý, hỗ trợ nhiều ngành sản xuất chuyển đổi công nghệ và tạo nền tảng để chủ động hơn trong giai đoạn tiếp theo.

TỪ CÁC DỰ ÁN CHUYỂN ĐỔI ĐẾN CHỦ ĐỘNG ĐỊNH HƯỚNG THỊ TRƯỜNG, CÔNG NGHỆ

Trong giai đoạn đầu, việc thực hiện Nghị định thư Montreal tại Việt Nam chủ yếu được triển khai thông qua các chương trình, dự án theo từng kế hoạch loại trừ, gắn với hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi công nghệ. Qua hơn ba thập kỷ, Việt Nam từng bước chuyển từ cách tiếp cận theo từng dự án sang chủ động xây dựng chính sách và lộ trình dài hạn.

Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đánh dấu bước chuyển quan trọng khi nội dung về bảo vệ tầng ozone được quy định một cách hệ thống và tiếp tục được cụ thể hóa, hoàn thiện tại Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 7/1/2022, Nghị định số 119/2025/NĐ-CP ngày 9/6/2025, Nghị định số 83/2026/NĐ-CP ngày 23/3/2026 của Chính phủ và các quy định liên quan.

Kế hoạch quốc gia được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 496/QĐ-TTg ngày 11/6/2024 tiếp tục xác định các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đến năm 2045, tạo cơ sở để Việt Nam chủ động kết nối lộ trình thực hiện Nghị định thư Montreal với định hướng chuyển đổi công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật, hiệu quả năng lượng, phát triển nguồn nhân lực và quản lý vòng đời các chất được kiểm soát.

Cùng với thúc đẩy công nghệ và môi chất thay thế, Việt Nam đang từng bước chuyển từ quản lý lượng chất đưa vào thị trường sang quản lý trong suốt vòng đời, thúc đẩy thu hồi, tái sử dụng, tái chế và tái sinh. Ảnh: Cục Biến đổi khí hậu
Cùng với thúc đẩy công nghệ và môi chất thay thế, Việt Nam đang từng bước chuyển từ quản lý lượng chất đưa vào thị trường sang quản lý trong suốt vòng đời, thúc đẩy thu hồi, tái sử dụng, tái chế và tái sinh. Ảnh: Cục Biến đổi khí hậu

Với doanh nghiệp, bước chuyển này có ý nghĩa quan trọng về tính ổn định và khả năng dự báo của chính sách. Khi lộ trình kiểm soát và định hướng công nghệ được xác định, thông tin được cung cấp kịp thời, doanh nghiệp có thể chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất, kinh doanh và đầu tư; lựa chọn công nghệ, thiết bị và môi chất phù hợp; đồng thời, hạn chế rủi ro đầu tư vào những công nghệ có thể sớm không còn phù hợp với yêu cầu quản lý và xu hướng thị trường.

Sự chủ động về chính sách cũng đòi hỏi phải tính đến nhu cầu thị trường trong suốt quá trình chuyển đổi. Khi hạn ngạch nhập khẩu các chất được kiểm soát giảm dần, một lượng lớn thiết bị hiện hữu vẫn cần môi chất để vận hành, bảo dưỡng, sửa chữa. Vì vậy, cùng với thúc đẩy công nghệ và môi chất thay thế, Việt Nam đang từng bước chuyển từ quản lý lượng chất đưa vào thị trường sang quản lý trong suốt vòng đời, thúc đẩy thu hồi, tái sử dụng, tái chế và tái sinh.

Từ cách tiếp cận chủ yếu theo chương trình, dự án, Việt Nam đang từng bước hình thành phương thức thực hiện chủ động hơn: có lộ trình dài hạn để định hướng công nghệ và thị trường, có cơ chế kết nối các bên và có các công cụ hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn bị cho chuyển đổi.

Để quá trình chuyển đổi diễn ra hiệu quả, vai trò của cơ quan quản lý cũng mở rộng từ ban hành và thực thi quy định sang định hướng, kết nối và tạo điều kiện cho các bên cùng tham gia; trao đổi với doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề, cơ sở nghiên cứu, đào tạo và các đối tác quốc tế giúp chính sách sát hơn với thực tiễn; đồng thời, giúp doanh nghiệp tiếp cận sớm thông tin về lộ trình, công nghệ, yêu cầu kỹ thuật và các nguồn lực hỗ trợ.

Việc đào tạo, nâng cao năng lực kỹ thuật viên, số hóa đăng ký và báo cáo, đơn giản hóa thủ tục và tăng cường phối hợp liên ngành cũng đang được triển khai nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.

Từ cách tiếp cận chủ yếu theo từng chương trình, dự án, Việt Nam đang từng bước hình thành phương thức thực hiện chủ động hơn: có lộ trình dài hạn để định hướng công nghệ và thị trường, có cơ chế kết nối các bên và có các công cụ hỗ trợ doanh nghiệp chuẩn bị cho chuyển đổi. Qua đó, Nhà nước có đủ thông tin và công cụ để quản lý, còn doanh nghiệp có đủ thông tin và thời gian để chủ động tổ chức sản xuất, kinh doanh và quyết định đầu tư.

MỞ RỘNG HỢP TÁC VÀ NGUỒN LỰC CHO GIAI ĐOẠN CHUYỂN ĐỔI MỚI

Khi Việt Nam bước sang giai đoạn chuyển đổi mới với phạm vi ngày càng rộng, từ công nghệ, quản lý vòng đời đến phát triển thị trường và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, cách thức hợp tác cũng cần được mở rộng theo hướng chủ động, đa dạng và cùng có lợi.

Sau hơn ba thập kỷ thực hiện Nghị định thư Montreal, Việt Nam đã tích lũy kinh nghiệm xây dựng chính sách, quản lý hạn ngạch và tổ chức chuyển đổi công nghệ, đồng thời hình thành mạng lưới hợp tác giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu, đào tạo và các đối tác quốc tế.

Đây là nền tảng để mở rộng từ các chương trình hỗ trợ theo từng dự án sang những quan hệ hợp tác dài hạn hơn, trong đó các bên cùng chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi tri thức, thử nghiệm công nghệ và phát triển các giải pháp phù hợp với nhu cầu thực tiễn.

Những lĩnh vực như quản lý vòng đời môi chất lạnh, số hóa và truy xuất dòng chất, nâng cao hiệu quả làm mát và phát triển công nghệ có tác động thấp hơn đến khí hậu đang mở ra những không gian hợp tác mới.

 Việt Nam có thể tiếp tục tiếp cận kinh nghiệm, công nghệ và nguồn lực quốc tế, đồng thời chia sẻ những bài học từ quá trình xây dựng chính sách và triển khai thực tế; cùng các đối tác nghiên cứu, thử nghiệm và nhân rộng các mô hình hiệu quả. Qua đó, hợp tác quốc tế không chỉ hỗ trợ thực hiện nghĩa vụ mà còn có thể tạo ra lợi ích chung về công nghệ, thị trường, năng lực và đầu tư.

Bên cạnh đó, cơ chế huy động nguồn lực cho chuyển đổi cần linh hoạt và đa dạng hơn. Nguồn lực từ Quỹ Đa phương và các chương trình hợp tác quốc tế có thể đóng vai trò xúc tác cho những công nghệ và mô hình mới, đồng thời tạo điều kiện huy động thêm nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ chức tài chính và các chương trình hỗ trợ chuyển đổi xanh. Các cơ chế tài chính phù hợp, chia sẻ một phần chi phí và rủi ro ban đầu có thể giúp doanh nghiệp chủ động đầu tư và tham gia quá trình chuyển đổi, thay vì phụ thuộc vào từng dự án hỗ trợ riêng lẻ.

Theo cách đó, nguồn lực quốc tế không chỉ là nguồn tài trợ để thực hiện nghĩa vụ mà còn có thể trở thành chất xúc tác cho hợp tác, đổi mới và đầu tư, góp phần hình thành các công nghệ, dịch vụ, thị trường mới và huy động sự tham gia chủ động của khu vực tư nhân.

ĐỒNG HÀNH CHO CHẶNG ĐƯỜNG DÀI HẠN

Hơn ba thập kỷ thực hiện Nghị định thư Montreal cho thấy những mục tiêu môi trường dài hạn chỉ có thể đạt được khi cam kết quốc tế được chuyển hóa thành chính sách trong nước, đi cùng nguồn lực, công nghệ và sự tham gia của doanh nghiệp.

Những kết quả đạt được là nền tảng quan trọng, nhưng chặng đường phía trước sẽ đặt ra yêu cầu ngày càng cao khi Việt Nam tiếp tục lộ trình loại trừ HCFC và giảm dần HFC, trong bối cảnh nhu cầu làm mát, yêu cầu đổi mới công nghệ và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế ngày càng gia tăng.

Để thực hiện những mục tiêu này, cần sự song hành của nhiều chủ thể. Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, cung cấp lộ trình và thông tin đủ sớm để định hướng thị trường; doanh nghiệp chủ động lựa chọn công nghệ và đầu tư chuyển đổi; các cơ sở nghiên cứu, đào tạo và đội ngũ kỹ thuật bảo đảm nền tảng công nghệ, nguồn nhân lực; các đối tác quốc tế tiếp tục đồng hành thông qua chia sẻ kinh nghiệm, công nghệ, nguồn lực và những mô hình hợp tác mới.

Sự phối hợp, chia sẻ kinh nghiệm, nguồn lực và cùng đầu tư giữa các bên có thể tạo ra những giải pháp mang lại lợi ích chung, vừa góp phần thực hiện các cam kết môi trường, vừa thúc đẩy đổi mới công nghệ, phát triển thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Qua đó, hợp tác trong khuôn khổ Nghị định thư Montreal ngày càng mở ra nhiều cơ hội để các bên cùng tham gia, cùng đóng góp và cùng hưởng lợi từ quá trình chuyển đổi.

Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 37-2026 phát hành ngày 14/9/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:

Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-37-2026.html

VnEconomy

Tìm giải pháp cho làm mát bền vững ở Việt Nam

Năm 2026 đánh dấu 10 năm kể từ khi Bản sửa đổi, bổ sung Kigali thuộc Nghị định thư Montreal được thông qua, mở ra một giai đoạn mới trong nỗ lực toàn cầu bảo vệ tầng ozone và ứng phó với biến đổi khí hậu. Với việc đưa các chất HFC- những khí nhà kính có tiềm năng làm nóng lên toàn cầu cao - vào lộ trình giảm dần, Bản sửa đổi, bổ sung Kigali đã thúc đẩy quá trình chuyển đổi công nghệ trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí theo hướng có tác động thấp hơn tới khí hậu...

Làm mát bền vững: Hướng tiếp cận mới và cơ hội cho doanh nghiệp

Việc quản lý, loại trừ các chất làm suy giảm tầng ozone và các chất gây hiệu ứng nhà kính, đồng thời thúc đẩy làm mát bền vững, cần được đặt trong một bài toán tổng thể với cách tiếp cận mới và các giải pháp đồng bộ. Làm mát bền vững là bài toán liên ngành, liên quan đến nhiều bộ, ngành và địa phương...

Hà Nội nỗ lực cải thiện chỉ số phát triển bền vững

UBND Thành phố Hà Nội yêu cầu các sở, ban, ngành và địa phương chủ động rà soát các mục tiêu, chỉ tiêu phát triển bền vững; đánh giá mức độ thực hiện và khả năng hoàn thành đến năm 2030, gắn với tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường...

Nhân Ngày Quốc tế Bảo vệ tầng ô-dôn năm 2026 và kỷ niệm 10 năm Bản sửa đổi, bổ sung Kigali được thông qua, Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức Chương trình tọa đàm “Hành động toàn cầu vì một hành tinh mát lành hơn”. Tọa đàm được phát trực tuyến trên trên VnEconomy.vn và FanPage VnEconomy vào 9h ngày 14/9/2026...

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy