Việt Nam cùng quốc tế tăng cường hợp tác kiểm soát các môi chất lạnh, bảo vệ tầng ô-dôn

Tại Cuộc họp mạng lưới cán bộ ô-dôn quốc gia khu vực Nam Á, Đông Nam Á và quốc đảo Thái Bình Dương, Việt Nam cùng cộng đồng quốc tế tập trung thúc đẩy thực hiện Nghị định thư Montreal, giảm dần các chất gây nóng lên toàn cầu trong lĩnh vực làm mát và nâng cao hiệu quả năng lượng, phát triển các giải pháp làm mát bền vững...

Cuộc họp mạng lưới cán bộ ô-dôn quốc gia khu vực Nam Á, Đông Nam Á và quốc đảo Thái Bình Dương diễn ra từ ngày 14–16/10/2026 tại TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Cục biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).
Cuộc họp mạng lưới cán bộ ô-dôn quốc gia khu vực Nam Á, Đông Nam Á và quốc đảo Thái Bình Dương diễn ra từ ngày 14–16/10/2026 tại TP. Hồ Chí Minh. Ảnh: Cục biến đổi khí hậu (Bộ Nông nghiệp và Môi trường).

Diễn ra từ ngày 14–16/10/2026 tại TP. Hồ Chí Minh, Cuộc họp mạng lưới cán bộ ô-dôn quốc gia khu vực Nam Á, Đông Nam Á và quốc đảo Thái Bình Dương có sự tham dự của đại diện các quốc gia, Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP), Ban Thư ký Ô-dôn, Quỹ Đa phương và các đối tác quốc tế.

Chương trình tập trung cập nhật tiến độ thực hiện Nghị định thư Montreal, chia sẻ kinh nghiệm kiểm soát các chất được quản lý, thúc đẩy công nghệ làm mát thân thiện với khí hậu và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.

CHÂU Á- THÁI BÌNH DƯƠNG  SỬ DỤNG CÁC CHẤT THUỘC PHẠM VI KIỂM SOÁT CỦA NGHỊ ĐỊNH THƯ LỚN NHẤT

Phát biểu khai mạc cuộc họp ngày 14/10, bà Dechen Tsering, Giám đốc khu vực châu Á – Thái Bình Dương của UNEP, cho biết khu vực này có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hiện Nghị định thư Montreal, bởi đây là nơi có mức sử dụng các chất thuộc phạm vi kiểm soát của nghị định thư lớn nhất thế giới.

Theo bà Dechen Tsering, việc loại trừ dần các chất làm suy giảm tầng ô-dôn đã đạt được nhiều tiến triển trong những thập kỷ qua. Tuy nhiên, quá trình thực hiện Bản sửa đổi Kigali đặt ra những yêu cầu mới về kỹ thuật, thể chế và quản lý, đòi hỏi các quốc gia tiếp tục phối hợp và đổi mới cách thức triển khai.

VnEconomy

Cần chuyển từ các dự án riêng lẻ sang những chương trình quốc gia tích hợp, kết nối đầu tư, năng lực thể chế, chính sách và thực thi.

Bà Dechen Tsering Giám đốc khu vực châu Á – Thái Bình Dương của UNEP

Bà cho rằng cần chuyển từ cách tiếp cận dựa trên những dự án riêng lẻ sang các chương trình quốc gia tích hợp, kết nối đầu tư, năng lực thể chế, chính sách và thực thi.

Cùng với đó, các quốc gia cần nâng cao năng lực của những bên liên quan, tăng cường truyền thông, giám sát và đánh giá để hạn chế trùng lặp, sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn và chuyển các cam kết quốc tế thành hành động cụ thể.

TỪ GIẢM DẦN HFC ĐẾN NÂNG CAO HIỆU QUẢ NĂNG LƯỢNG

Ông Bùi Đức Hiếu, Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, cho biết năm 2026 đánh dấu 10 năm thông qua Bản sửa đổi Kigali, là dịp để cộng đồng quốc tế đánh giá những kết quả đã đạt được và xác định các ưu tiên trong giai đoạn tiếp theo.

Một trọng tâm của lộ trình này là kiểm soát hydrofluorocarbon (HFC), nhóm khí được sử dụng phổ biến trong thiết bị lạnh và điều hòa không khí. HFC không trực tiếp làm suy giảm tầng ô-dôn như các chất thuộc nhóm chlorofluorocarbon (CFC) và hydrochlorofluorocarbon (HCFC), nhưng có tiềm năng gây nóng lên toàn cầu cao. Vì vậy, việc giảm dần HFC vừa góp phần thực hiện các mục tiêu về khí hậu, vừa đặt ra yêu cầu chuyển đổi công nghệ trong lĩnh vực làm mát.

VnEconomy

Việt Nam tiếp tục cam kết thực hiện lộ trình loại trừ HCFC và giảm dần HFC theo Bản sửa đổi Kigali, đồng thời thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững, nâng cao hiệu quả năng lượng và quản lý môi chất lạnh theo vòng đời.

Ông Bùi Đức Hiếu  Phó Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Theo ông Hiếu, trong bối cảnh nhiệt độ toàn cầu gia tăng, đô thị hóa diễn ra nhanh chóng và nhu cầu làm mát ngày càng lớn, đặc biệt tại các quốc gia đang phát triển, việc bảo đảm khả năng tiếp cận các giải pháp làm mát hiệu quả, an toàn và bền vững có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế – xã hội, sức khỏe cộng đồng và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu.

Điều này đòi hỏi cách tiếp cận toàn diện, kết hợp giảm dần tiêu thụ HFC với nâng cao hiệu quả năng lượng, phát triển công nghệ thay thế, tăng cường năng lực kỹ thuật và quản lý môi chất lạnh trong suốt vòng đời sử dụng. “Việc giảm dần HFC cần được thực hiện đồng thời với nâng cao hiệu quả năng lượng, phát triển công nghệ thay thế và quản lý môi chất lạnh theo vòng đời.”ông Hiếu cho biết.

Ông Hiếu cũng chỉ ra những yêu cầu trong quá trình thực hiện Nghị định thư Montreal, gồm tăng cường tính minh bạch và độ tin cậy của dữ liệu, nâng cao hiệu quả hệ thống cấp phép và hạn ngạch, đồng thời phòng ngừa hoạt động thương mại bất hợp pháp đối với các chất được kiểm soát.

Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi cần thúc đẩy việc sử dụng các công nghệ làm mát có hiệu quả năng lượng cao và tác động thấp đến khí hậu. Đây không chỉ là vấn đề lựa chọn môi chất lạnh thay thế mà còn liên quan đến thiết kế thiết bị, quy trình vận hành, bảo dưỡng và năng lực của đội ngũ kỹ thuật viên.

Một nội dung được chú trọng tại cuộc họp là quản lý môi chất lạnh theo vòng đời, bao gồm thu hồi, tái chế, tái sinh và xử lý phù hợp. Theo đại diện Cục Biến đổi khí hậu, cách tiếp cận này góp phần hạn chế phát thải, sử dụng hiệu quả tài nguyên và thúc đẩy kinh tế tuần hoàn.

Quá trình chuyển đổi công nghệ cũng cần bảo đảm sự hài hòa giữa mục tiêu môi trường, hiệu quả kinh tế và yêu cầu phát triển, phù hợp với điều kiện và năng lực thực tế của từng quốc gia.

VIỆT NAM CAM KẾT THỰC HIỆN LỘ TRÌNH LOẠI TRỪ HCFC VÀ GIẢM DẦN HFC, THÚC ĐẨY CÁC GIẢI PHÁP LÀM MÁT BỀN VỮNG

Trong khuôn khổ cuộc họp, các đại biểu trao đổi về hệ thống giám sát, báo cáo, xác minh và thực thi đối với cơ chế cấp phép, hạn ngạch các chất được kiểm soát; xử lý chênh lệch dữ liệu thương mại giữa các quốc gia; cũng như theo dõi, xác minh mức tiêu thụ HFC trong các kế hoạch thực hiện Bản sửa đổi Kigali.

Các phiên thảo luận đồng thời cập nhật công nghệ thay thế, giải pháp làm mát thân thiện với khí hậu, kinh nghiệm bảo dưỡng thiết bị lạnh và điều hòa không khí, cùng các sáng kiến nâng cao hiệu quả năng lượng. Đại diện các quốc gia cũng chia sẻ kinh nghiệm đào tạo, cấp chứng chỉ cho kỹ thuật viên và phối hợp giữa cơ quan quản lý với cơ quan hải quan nhằm tăng cường kiểm soát thương mại các chất được quản lý.

Theo bà Dechen Tsering, các cuộc họp mạng lưới có ý nghĩa thiết thực trong việc giúp các quốc gia chia sẻ kinh nghiệm, học hỏi những giải pháp đã được triển khai và tránh lặp lại các khó khăn tương tự. Bà nhấn mạnh sự hỗ trợ trực tiếp của các cơ quan thực hiện trong suốt quá trình triển khai là yếu tố quan trọng giúp các nước tháo gỡ rào cản, phối hợp các bên liên quan và đạt được kết quả có thể đo lường.

“Sự hỗ trợ trực tiếp trong quá trình triển khai giúp các quốc gia tháo gỡ rào cản, phối hợp các bên liên quan và đạt được kết quả có thể đo lường,” bà Dechen Tsering nhấn mạnh.

Về phía Việt Nam, ông Bùi Đức Hiếu cho biết Việt Nam là thành viên Công ước Vienna và Nghị định thư Montreal từ năm 1994. Với sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong loại trừ các chất làm suy giảm tầng ô-dôn, hoàn thiện chính sách quản lý và thúc đẩy chuyển đổi công nghệ.

Việt Nam tiếp tục cam kết thực hiện lộ trình loại trừ HCFC và giảm dần HFC theo Bản sửa đổi Kigali, đồng thời thúc đẩy các giải pháp làm mát bền vững, nâng cao hiệu quả năng lượng và quản lý môi chất lạnh theo vòng đời.

Trong khuôn khổ sự kiện, các đại biểu dự kiến tham quan công trình xanh tại Công ty Daikin Air Conditioning ở TP. Hồ Chí Minh để tìm hiểu các giải pháp làm mát hiệu quả năng lượng và hoạt động đào tạo kỹ thuật viên trong lĩnh vực lạnh và điều hòa không khí.

Ông Hiếu cho rằng việc tiếp tục tăng cường hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế và đối tác phát triển sẽ giúp Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm, tiếp cận các mô hình hiệu quả và thúc đẩy thực hiện những mục tiêu chung về bảo vệ tầng ô-dôn, ứng phó với biến đổi khí hậu và phát triển các giải pháp làm mát bền vững.

Xây dựng bộ tiêu chuẩn điều tra, đánh giá địa chất môi trường- khoáng sản phóng xạ, độc hại

Bộ tiêu chuẩn ra đời là cơ sở để tiến hành công tác thành lập các bản đồ địa chất môi trường trong từng loại khoáng sản độc hại; làm cơ sở tham chiếu để bổ sung và hoàn thiện các quy định liên quan; xây dựng bộ đơn giá cụ thể cho từng hạng mục công việc trong công tác điều tra, đánh giá và thành lập bộ bản đồ môi trường khoáng sản độc hại.

Giảm rủi ro thiên tai từ mỗi gia đình, trường học và cộng đồng

Thiên tai có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhưng thiệt hại không phải điều con người buộc phải chấp nhận. Chuyển từ tư duy ứng phó sang quản trị rủi ro, chủ động phòng ngừa và nâng cao kỹ năng cho người dân là những giải pháp quan trọng để xây dựng cộng đồng an toàn, có khả năng chống chịu tốt hơn...

Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

81 năm Quốc khánh 2/9 (1945-2026)

Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...

VnEconomy Interactive

VnEconomy Interactive

Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...

VnEconomy
VnEconomy