Dầu khí Việt Nam trong chuyển dịch năng lượng và tài nguyên khoáng sản biển
NNhóm nghiên cứu chiến lược VnEconomy
Chọn cỡ chữ
Trong tiến trình chuyển dịch năng lượng, dầu khí Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt lớn: giá trị của ngành không còn chỉ được đo bằng sản lượng dầu, khí khai thác được từ lòng biển, mà ngày càng nằm ở năng lực khảo sát, thiết kế, chế tạo, lắp đặt, vận hành, bảo dưỡng, logistics, quản trị an toàn và làm chủ các công trình ngoài khơi. Nếu được nhìn nhận như một nền tảng công nghiệp và công nghệ, những năng lực được tích lũy qua nhiều thập kỷ có thể trở thành bệ phóng để Việt Nam bước vào các chuỗi giá trị mới.
Dầu khí là một trong số ít ngành công nghiệp của Việt Nam đã
hình thành được một hệ sinh thái tương đối hoàn chỉnh từ thăm dò, khai thác,
thu gom, xử lý, vận chuyển, chế biến đến dịch vụ kỹ thuật, cơ khí chế tạo và hậu
cần ngoài khơi. Qua nhiều thế hệ công trình, ngành dầu khí đã tạo ra không chỉ
những mỏ dầu, mỏ khí mà còn tạo dựng một lớp tài sản vô hình có giá trị rất lớn
là: đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật, chuyên gia quản lý dự án; năng lực thiết
kế và thi công công trình biển; hệ thống căn cứ cảng, bãi chế tạo, tàu dịch vụ;
kinh nghiệm vận hành các công trình trong điều kiện biển phức tạp; mạng lưới
doanh nghiệp và đối tác quốc tế. Đó chính là “phần vốn” đặc biệt của ngành dầu
khí trong nền kinh tế biển Việt Nam ngày nay.
Trữ lượng dầu mỏ Việt Nam khoảng 4,4 tỷ thùng, xếp thứ 28
trong số 52 quốc gia có trữ lượng dầu mỏ xác minh trên thế giới và đứng đầu khu
vực Đông Nam Á. Trữ lượng khí đã xác minh của Việt Nam đạt khoảng 0,6 nghìn tỷ
m3, đứng thứ ba trong khu vực. Kể từ khi tấn dầu thô đầu tiên được khai thác
năm 1986, tính đến cuối năm 2025, ngành dầu khí Việt Nam đã khai thác được 450
triệu tấn dầu thô và 193 tỷ m3 khí (Hình 1).
Hoạt động dầu khí bao phủ hầu hết thềm lục địa và vùng đặc
quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Không những bảo đảm an ninh năng lượng
quốc gia, đóng góp quan trọng cho ngân sách Nhà nước, mà ngành dầu khí còn có
những đóng góp quan trọng trong việc khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và
quyền tài phán của Việt Nam trên Biển Đông.
Trong bối cảnh nhu cầu năng lượng tiếp tục tăng nhanh, quá
trình chuyển dịch năng lượng diễn ra mạnh mẽ và yêu cầu giảm phát thải ngày
càng cao, bài toán đặt ra không phải là lựa chọn đơn giản giữa dầu khí và năng
lượng tái tạo. Vấn đề quan trọng hơn là làm thế nào để bảo đảm an ninh năng lượng
trong giai đoạn chuyển tiếp, đồng thời, tận dụng được năng lực công nghiệp dầu
khí để xây dựng các ngành năng lượng và công nghiệp biển của tương lai. Giá trị
chiến lược của dầu khí Việt Nam không chỉ nằm ở tài nguyên có thể khai thác, mà
còn ở hệ thống năng lực công nghệ, kỹ thuật và dịch vụ ngoài khơi có thể chuyển
hóa cho nền kinh tế biển mới.
DẦU KHÍ TRƯỚC YÊU CẦU AN NINH VÀ CHUYỂN DỊCH NĂNG LƯỢNG
Chuyển dịch năng lượng đang làm thay đổi căn bản cấu trúc của
hệ thống năng lượng toàn cầu. Năng lượng tái tạo phát triển nhanh, điện khí,
lưu trữ, hydro, amoniac, công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon, điện gió ngoài
khơi và nhiều công nghệ mới đang mở ra một hệ sinh thái năng lượng khác biệt với
mô hình truyền thống. Đối với Việt Nam, yêu cầu chuyển dịch năng lượng càng phải
đặt trong mối quan hệ với một nền kinh tế đang phát triển nhanh, nhu cầu điện
tăng cao, quá trình công nghiệp hóa tiếp tục mở rộng và yêu cầu bảo đảm cung ứng
năng lượng ổn định ngày càng lớn.
Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20/8/2025 của Bộ Chính trị về bảo
đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt yêu cầu
bảo đảm đủ năng lượng cho phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời thúc đẩy chuyển
dịch năng lượng theo hướng hiện đại, xanh và bền vững. Điều này cho thấy dầu
khí không thể được nhìn đơn thuần như một ngành đang thu hẹp trong quá trình
chuyển dịch, mà vẫn là một bộ phận của bài toán an ninh năng lượng trong giai
đoạn chuyển tiếp, đồng thời phải từng bước nâng cao hiệu quả, giảm phát thải và
chuyển hóa năng lực công nghiệp sang các lĩnh vực năng lượng mới.
Quy hoạch điện VIII điều chỉnh được phê duyệt năm 2025 đặt mục
tiêu đáp ứng nhu cầu điện cho nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng khoảng 10%/năm
trong giai đoạn 2026-2030. Theo quy hoạch, điện thương phẩm đến năm 2030 dự kiến
đạt khoảng 500,4-557,8 tỷ kWh; đến năm 2050 khoảng 1.237,7-1.375,1 tỷ kWh. Điều
đó cho thấy quy mô hệ thống năng lượng của Việt Nam trong vài thập kỷ tới sẽ tiếp
tục mở rộng rất mạnh.
Trong cấu trúc đó, dầu khí vẫn giữ một vai trò nhất định.
Khí tự nhiên, điện khí và LNG có thể đóng vai trò là nguồn điện linh hoạt, hỗ
trợ hệ thống khi tỷ trọng năng lượng tái tạo tăng cao. Dầu khí cũng là nguyên
liệu đầu vào của nhiều ngành công nghiệp, hóa dầu, vật liệu, giao thông và sản
xuất. Vì vậy, chuyển dịch năng lượng không đồng nghĩa với việc giá trị của dầu
khí biến mất ngay lập tức.
Vấn đề là vai trò của dầu khí phải thay đổi. Nếu trước đây mục
tiêu trọng tâm là gia tăng sản lượng khai thác, thì trong giai đoạn mới, hiệu
quả đầu tư, hiệu suất khai thác, an toàn, giảm phát thải methane, giảm đốt bỏ
khí, tối ưu tiêu thụ năng lượng và giảm phát thải trong toàn chuỗi phải trở
thành những tiêu chí ngày càng quan trọng. Tài nguyên dầu khí vì thế cần được
khai thác theo hướng “giá trị cao hơn, phát thải thấp hơn, hiệu quả hơn”. Đây
cũng là hướng chuyển từ tư duy “khai thác tài nguyên” sang “quản trị tài sản
năng lượng”.
Điều này càng quan trọng trong bối cảnh nguồn tài nguyên dễ
khai thác ngày càng giảm, các mỏ mới có thể nằm xa bờ hơn, điều kiện địa chất
phức tạp hơn và chi phí phát triển cao hơn. Những mỏ nhỏ, mỏ cận biên nếu không
có cơ chế đủ linh hoạt có thể trở nên khó triển khai về mặt kinh tế, dù vẫn có
ý nghĩa đối với an ninh năng lượng.
Do đó, chính sách dầu khí trong giai đoạn mới cần hướng tới
hai mục tiêu tưởng như khác nhau nhưng thực chất bổ trợ cho nhau là: khai thác
hợp lý phần tài nguyên còn có giá trị kinh tế và đồng thời bảo toàn, nâng cấp
năng lực công nghiệp để phục vụ các ngành năng lượng mới.
Một trong những thành tựu đáng chú ý nhất của ngành dầu khí
Việt Nam là hình thành được năng lực làm chủ ngày càng nhiều công đoạn của chuỗi
công trình ngoài khơi.
NĂNG LỰC NGOÀI KHƠI: “TÀI SẢN VÔ HÌNH” CỦA NGÀNH DẦU KHÍ
Qua nhiều thập kỷ hoạt động trên thềm lục địa Việt Nam, liên
doanh Vietsovpetro đã hình thành đội ngũ khoảng 8.000 cán bộ, kỹ sư và lao động
có trình độ, kinh nghiệm quốc tế, có khả năng thực hiện chuỗi công việc từ giải
đoán địa chấn, khoan thăm dò, phát triển mỏ, tới thiết kế, chế tạo, lắp đặt
công trình biển và khai thác dầu khí.
Giàn CNTT số 2 mỏ Bạch Hổ
Một ví dụ khác là năng lực của Tổng Công ty cổ phần Dịch vụ
Kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) trong lĩnh vực EPC/EPCIC. Doanh nghiệp này đã
phát triển hệ thống dịch vụ từ thiết kế, mua sắm, chế tạo, xây dựng, vận chuyển,
lắp đặt đến đấu nối, chạy thử các công trình dầu khí ngoài khơi; đồng thời tham
gia sở hữu và vận hành các hệ thống FSO/FPSO.
Điều đáng chú ý là năng lực đó đang bắt đầu được chuyển sang
thị trường quốc tế. Năm 2025, PTSC có doanh thu hợp nhất 33.790 tỷ đồng và lợi
nhuận trước thuế 2.205 tỷ đồng; hoàn thành và bàn giao 42 công trình năng lượng
với tổng khối lượng chế tạo trên 107.000 tấn, trong đó nhiều công trình phục vụ
các thị trường xuất khẩu.
Nếu đặt trong bối cảnh chuyển dịch năng lượng, đây là một bước
chuyển rất quan trọng: doanh nghiệp dầu khí Việt Nam không còn chỉ cung cấp dịch
vụ cho thị trường dầu khí trong nước mà đang từng bước trở thành nhà cung cấp
công trình và dịch vụ cho chuỗi năng lượng ngoài khơi quốc tế.
Điểm đáng chú ý là Luật Dầu khí năm 2026 đã làm rõ hơn vai
trò của Petrovietnam trong hệ sinh thái năng lượng quốc gia, đã tạo điều kiện để
Petrovietnam chủ động hơn trong quản trị tài sản, phát triển chuỗi giá trị và
chuyển đổi năng lực công nghiệp. Đây là yếu tố quan trọng để Petrovietnam chuyển
từ một tập đoàn chủ yếu khai thác dầu khí thành một tập đoàn công nghiệp - năng
lượng có năng lực hoạt động trong nhiều không gian và chuỗi giá trị mới.
GIÁ TRỊ LỚN NHẤT CỦA DẦU KHÍ CÓ THỂ NẰM Ở NĂNG LỰC LÀM CHỦ BIỂN
Nhìn rộng hơn, câu chuyện dầu khí trong chiến lược quốc gia
biển mạnh không nên dừng ở dầu và khí. Điều đáng quan tâm là dầu khí đã buộc Việt
Nam phải học cách làm việc trong một môi trường đặc biệt: xa đất liền, điều kiện
khắc nghiệt, rủi ro cao, tiêu chuẩn quốc tế, công nghệ phức tạp và yêu cầu an
toàn tuyệt đối.
Trong quá trình đó, Việt Nam đã hình thành một lớp năng lực
mà không phải quốc gia có biển nào cũng có. Đó là năng lực tổ chức một dự án
ngoài khơi rất lớn, phức tạp, trong môi trường có rủi ro cao và theo tiêu chuẩn
quốc tế. Những năng lực này có thể trở thành nền móng của một nền công nghiệp
biển xa.
Trong tương lai, Việt Nam có thể cùng lúc có các công trình
dầu khí, điện gió ngoài khơi, cáp điện, trạm biến áp, hệ thống lưu trữ, cảng
năng lượng, công trình nghiên cứu biển, tàu dịch vụ và các thiết bị dưới nước.
Khi đó, khái niệm “công nghiệp dầu khí” sẽ dần được mở rộng thành công nghiệp
năng lượng và công nghiệp ngoài khơi.
Đây là một chuyển đổi có tính chiến lược. Nếu thành công, Việt
Nam không chỉ khai thác được tài nguyên từ biển mà còn xuất khẩu được năng lực
công nghiệp ra biển. Đó chính là logic của chuyển dịch năng lực, bên cạnh chuyển
dịch năng lượng. Nếu làm được điều này, quá trình chuyển dịch không chỉ giảm
phát thải mà còn tạo thêm ngành công nghiệp, việc làm, công nghệ và thị trường
xuất khẩu. Đây là lý do kinh nghiệm dầu khí cần được nhìn nhận như một phần của
vốn công nghiệp quốc gia.
TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2045: TIẾN LÊN LÀM CHỦ CÔNG NGHỆ BIỂN
Không thể có quốc gia biển mạnh nếu thiếu doanh nghiệp biển
mạnh. Để biến di sản công nghiệp dầu khí thành động lực mới, Việt Nam cần chuyển
từ tư duy “hỗ trợ dự án” sang tư duy “xây dựng năng lực quốc gia”, đó là:
Thứ nhất, năng lực thiết kế và công nghệ. Các doanh nghiệp cần
từng bước làm chủ thiết kế cơ sở, thiết kế kỹ thuật, mô phỏng, quản lý vòng đời
tài sản và các giải pháp công nghệ ngoài khơi. Đây là khâu quyết định để có tỷ
lệ giá trị gia tăng cao.
Thứ hai, năng lực chế tạo và vật liệu. Việt Nam cần phát triển
mạnh việc sản xuất thép chuyên dụng, chống ăn mòn, kết cấu ngoài khơi, thiết bị
điện, cáp, hệ thống điều khiển và các cấu kiện chịu điều kiện biển khắc nghiệt.
Thứ ba, năng lực biển sâu và robot. Đây là một khoảng trống
cần được ưu tiên. Robot dưới nước, AUV, ROV, cảm biến, khảo sát đáy biển và
công nghệ điều khiển từ xa sẽ trở thành hạ tầng công nghệ của nền kinh tế biển
tương lai.
Thứ tư, năng lực vận hành và bảo dưỡng. Trong nền kinh tế
ngoài khơi, doanh thu không chỉ nằm ở thời điểm xây dựng công trình. Giá trị lớn
có thể đến từ 20-30 năm vận hành, bảo dưỡng, kiểm tra và nâng cấp. Việt Nam cần
xây dựng các doanh nghiệp có khả năng quản lý tài sản biển trong toàn bộ vòng đời.
Thứ năm, năng lực quản trị an toàn, môi trường và rủi ro.
Đây là năng lực đặc biệt quan trọng khi hoạt động dịch chuyển ra biển xa và nước
sâu. Một sự cố ngoài khơi có thể gây tác động vượt xa phạm vi của một dự án.
Những năng lực này phải được liên kết với đào tạo nhân lực.
Không thể xây dựng công nghiệp biển thế hệ mới nếu vẫn đào tạo nhân lực chủ yếu
cho các công việc truyền thống. Cần hình thành các chương trình đào tạo liên
ngành giữa dầu khí, cơ khí, điện, tự động hóa, vật liệu, robot, đại dương học,
dữ liệu và môi trường.
VIỆT NAM CẦN THAY ĐỔI CÁCH ĐỊNH NGHĨA GIÁ TRỊ CỦA BIỂN
Biển không chỉ là nơi có dầu khí, cá, khoáng sản hay cảnh
quan. Biển còn là không gian để phát triển công nghiệp, năng lượng, logistics,
khoa học, dữ liệu, công nghệ và các dịch vụ giá trị cao. Trong quá trình đó, dầu
khí có thể giữ một vai trò đặc biệt: là ngành cung cấp tài nguyên trong giai đoạn
chuyển tiếp, nhưng đồng thời là “trường đại học công nghiệp ngoài khơi” của Việt
Nam.
Những gì ngành dầu khí đã tích lũy về kỹ thuật, công nghệ,
con người và quản trị cần được chuyển hóa thành lợi thế mới. Để làm được điều
đó, có thể đặt ra một số định hướng lớn. Những định hướng này cần được đặt
trong mục tiêu lớn hơn là xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh vào
năm 2045. Trong đó, dầu khí không chỉ được xem là một ngành khai thác tài
nguyên, mà còn là một nền tảng công nghiệp để Việt Nam làm chủ ngày càng sâu
hơn không gian ngoài khơi. Nhiệm vụ của giai đoạn tới sẽ là vừa khai thác hiệu
quả, an toàn phần tài nguyên còn lại, vừa bảo toàn và nâng cấp những năng lực về
con người, công nghệ, hạ tầng, doanh nghiệp và quản trị đã được tích lũy qua
nhiều thập kỷ để hình thành các ngành công nghiệp biển thế hệ mới. Trong đó, cần
thực hiện những công việc sau:
Một, tiếp tục khai thác dầu khí theo hướng hiệu quả, an
toàn, giảm phát thải và bảo đảm an ninh năng lượng.
Hai, xây dựng chương trình quốc gia về chuyển đổi năng lực
công nghiệp dầu khí sang công nghiệp năng lượng và công nghiệp ngoài khơi,
trong đó xác định rõ những doanh nghiệp, cơ sở hạ tầng và công nghệ có thể chuyển
đổi.
Ba, hình thành các trung tâm công nghiệp năng lượng ngoài
khơi tại những khu vực có nền tảng dầu khí, cảng biển, cơ khí và nhân lực.
Bốn, phát triển chuỗi cung ứng điện gió ngoài khơi theo hướng
tăng tỷ lệ giá trị trong nước, không chỉ dừng ở chế tạo kết cấu mà còn từng bước
tiến vào thiết kế, thiết bị điện, cáp, lắp đặt, vận hành và bảo dưỡng.
Năm, đầu tư mạnh cho công nghệ biển sâu, robot, dữ liệu đại
dương và khảo sát tài nguyên biển.
Sáu, xây dựng hệ thống dữ liệu quốc gia về tài sản ngoài
khơi, bao gồm dầu khí, công trình biển, cảng, tàu dịch vụ, đường ống, khu vực
có tiềm năng năng lượng tái tạo và tài nguyên biển.
Bảy, xây dựng một hệ thống thể chế có khả năng điều phối nhiều
ngành cùng sử dụng không gian biển, tránh tình trạng mỗi ngành phát triển một
cách riêng lẻ.
Tám, phát triển nhân lực biển thế hệ mới, kết hợp kỹ thuật dầu
khí với khoa học đại dương, robot, trí tuệ nhân tạo, vật liệu, dữ liệu và môi
trường.
Chín, thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam từ vai trò nhà thầu phụ
lên nhà thầu chính, nhà cung cấp giải pháp và cuối cùng là nhà phát triển dự án
trong các chuỗi giá trị ngoài khơi của khu vực.
Mười, phải đặt mọi quyết định khai thác tài nguyên biển
trong một nguyên tắc xuyên suốt: khai thác biển nhưng không đánh đổi tương lai
của biển. Đối với dầu khí, điều đó có nghĩa là khai thác hiệu quả phần tài
nguyên còn lại, giảm tác động môi trường và sử dụng nguồn lực thu được để nâng
cấp nền kinh tế.
Trong tầm nhìn đến năm 2045, mục tiêu cuối cùng không phải
là kéo dài mãi mô hình khai thác tài nguyên, cũng không phải phủ nhận vai trò của
dầu khí trong quá trình chuyển tiếp. Mục tiêu là chuyển hóa tài nguyên thành
năng lực, chuyển hóa năng lực thành công nghiệp, chuyển hóa công nghiệp thành sức
cạnh tranh và chuyển hóa sức cạnh tranh thành sức mạnh quốc gia biển.
Đó chính là cách để Việt Nam đi từ một quốc gia
có biển đến một quốc gia biển mạnh mà Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã xác định. Với dầu khí, điều đó có
nghĩa là giá trị của ngành cần được nhìn rộng hơn tài nguyên dưới lòng biển, hướng
tới năng lực công nghiệp, công nghệ và dịch vụ ngoài khơi có thể phục vụ nhiều
ngành kinh tế biển mới. Từ góc độ này, dầu khí đang được đặt trong một không
gian rộng hơn của công nghiệp năng lượng và kinh tế biển, nơi tài nguyên dưới
lòng biển, công nghệ, hạ tầng, doanh nghiệp và không gian biển được nhìn nhận
trong một chỉnh thể.
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế
Việt Nam số 42-2026 phát hành ngày 19/10/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc
tạiđây:
Việt Nam đang sở hữu nguồn lợi hải sản và tài nguyên sinh học biển phong phú, từ nguồn gen, vi sinh vật, rong biển, vi tảo đến lượng lớn thủy sản. Tuy nhiên, lợi thế về sinh khối mới chỉ là điểm khởi đầu. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng phát hiện các hợp chất có hoạt tính sinh học, giải mã cơ chế, phát triển sản phẩm, làm chủ công nghệ tinh chế, tạo tài sản trí tuệ và đưa kết quả nghiên cứu ra thị trường.
Với đường bờ biển dài, nằm gần các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng và là một trong những nền kinh tế có độ mở thương mại cao, Việt Nam đứng trước cơ hội lớn để nâng tầm vị thế trong mạng lưới hàng hải và logistics khu vực. Tuy nhiên, cạnh tranh hàng hải hiện nay đang chuyển sang cuộc đua về chất lượng dịch vụ rất mạnh mẽ. Do đó, Việt Nam cần phải hình thành một hệ sinh thái hàng hải đủ mạnh để chuyển hóa lợi thế vị trí địa lý thành năng lực hàng hải thực sự.
Không gian biển đang trở thành một trong những nguồn lực phát triển chiến lược của Việt Nam, nhưng đây cũng là nguồn lực hữu hạn khi ngày càng nhiều ngành kinh tế cùng tìm kiếm những khu vực có điều kiện thuận lợi nhất để phát triển. Trong bối cảnh đó, quy hoạch không gian phải trở thành công cụ kiến tạo giá trị, điều phối các lợi ích và tổ chức những không gian phát triển đa mục tiêu…
Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Hiệp hội Mậu dịch tự do châu Âu (EFTA) được kỳ vọng sẽ mở ra cơ hội mới cho Việt Nam trong việc đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, nhập khẩu, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu...
Việt Nam luôn cần vốn ngoại để mở xưởng, tạo việc làm, thúc đẩy xuất khẩu và kết nối toàn cầu. Bước sang năm 2026, khi vị thế kinh tế đã khác, thu hút FDI của Việt Nam đòi hỏi chuẩn mực khắt khe hơn: phải xanh, số hóa, công nghệ cao, có sức lan tỏa và giúp Việt Nam từng bước làm chủ, tiến tới sở hữu công nghệ gốc.
Cận thị bệnh lý (cận thị thoái hóa/cận thị ác tính) là dạng cận thị nghiêm trọng và nguy hiểm nhất. Khác với cận thị thông thường, bệnh liên quan đến sự kéo dài bất thường và liên tục của trục nhãn cầu, dẫn đến các tổn thương cấu trúc ở đáy mắt và có nguy cơ cao gây mù lòa.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...