Theo số liệu thống kê sơ bộ mới nhất vừa được Tổng cục Hải quan công bố, trong kỳ 1 tháng 4/2023 (từ ngày 1/4 đến ngày 15/4/2023), tổng trị giá xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam đạt 26,08 tỷ USD, giảm 15,3% (tương ứng giảm 4,71 tỷ USD) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 3/2023.
Kết quả đạt được trong nửa đầu tháng 4/2023 đã đưa tổng trị giá xuất nhập khẩu của cả nước đến hết ngày 15/4/2023 đạt 179,74 tỷ USD, giảm 14,6% (tương ứng giảm 30,7 tỷ USD về số tuyệt đối) so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, tổng trị giá xuất nhập khẩu của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 125,56 tỷ USD, giảm 14,2% (tương ứng giảm 20,7 tỷ USD).
Cụ thể, về xuất khẩu, trong kỳ 1 tháng 4/2023 đạt 13,24 tỷ USD, giảm 19,2% (tương ứng giảm 3,14 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kỳ 2 tháng 3/2023.
Một số nhóm hàng có trị giá xuất khẩu kỳ 1 tháng 4/2023 giảm so với kỳ 2 tháng 3/2023, gồm: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 672 triệu USD (tương ứng giảm 25,2%); điện thoại các loại và linh kiện giảm 565 triệu USD (tương ứng giảm 22,9%); máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác giảm 434 triệu USD (tương ứng giảm 21,7%); sắt thép các loại giảm 230 triệu USD (tương ứng giảm 47,7%); hàng dệt may giảm 211 triệu USD (tương ứng giảm 15,2%)...
Như vậy, tính từ đầu năm đến hết 15/4/2023, tổng trị giá xuất khẩu của Việt Nam đạt 92,5 tỷ USD, giảm 12,1% (tương ứng giảm 12,73 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2022.
Trong đó, một số nhóm hàng giảm như: điện thoại các loại và linh kiện giảm 2,71 tỷ USD (tương ứng giảm 15%); hàng dệt may giảm 1,84 tỷ USD (tương ứng giảm 18,1%); gỗ và sản phẩm gỗ giảm 1,45 tỷ USD (tương ứng giảm 30,3%); giày dép giảm 1,05 tỷ USD (tương ứng giảm 16,8%)... so với cùng kỳ năm 2022.
Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cũng cho thấy, trị giá xuất khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ 1 tháng 4/2023 đạt 9,56 tỷ USD, giảm 20,5% (tương ứng giảm 2,47 tỷ USD) so với kỳ 2 tháng 3/2023.
Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/4/2023, tổng trị giá xuất khẩu hàng hóa của nhóm các doanh nghiệp FDI đạt 68,6 tỷ USD, giảm 11% (tương ứng giảm 8,48 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước, chiếm 74,2% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước.
Từ chiều ngược lại, tổng trị giá hàng hoá nhập khẩu của Việt Nam trong kỳ 1 tháng 4/2023 đạt 12,84 tỷ USD, giảm 10,9% (tương ứng giảm 1,56 tỷ USD về số tuyệt đối) so với kết quả thực hiện trong nửa cuối tháng 3/2023.
Trị giá nhập khẩu hàng hóa trong kỳ 1 tháng 4/2023 giảm so với kỳ 2 tháng 3/2023 chủ yếu ở một số nhóm hàng sau: máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 448 triệu USD (tương ứng giảm 12,7%); máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác giảm 264 triệu USD (tương ứng giảm 14,2%); sắt thép các loại giảm 138 triệu USD (tương ứng giảm 24,5%)...
Như vậy, tính từ đầu năm đến hết 15/4/2023, tổng trị giá nhập khẩu của cả nước đạt 87,24 tỷ USD, giảm 17,1% (tương ứng giảm 17,97 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2022.
Trong đó một số nhóm hàng giảm mạnh như: điện thoại các loại và linh kiện giảm 4,29 tỷ USD (tương ứng giảm 65,3%); máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện giảm 3,4 tỷ USD (tương ứng giảm 13,2%); máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng khác giảm 1,83 tỷ USD (tương ứng giảm 14,5%) so với cùng kỳ năm 2022.
Trị giá nhập khẩu hàng hóa của các doanh nghiệp FDI trong kỳ 1 tháng 4/2023 đạt 8,28 tỷ USD, giảm 8,6% (tương ứng giảm 779 triệu USD) so với kỳ 2 tháng 3/2023.
Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/4/2023, tổng trị giá nhập khẩu của nhóm các doanh nghiệp FDI đạt 56,96 tỷ USD, giảm 17,7% (tương ứng giảm 12,26 tỷ USD) so với cùng kỳ năm 2022, chiếm 65,3% tổng trị giá nhập khẩu của cả nước.
Với kết quả trên, trong kỳ 1 tháng 4/2023, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 398 triệu USD. Tính từ đầu năm đến hết ngày 15/4/2023, cán cân thương mại hàng hóa thặng dư 5,25 tỷ USD.
Lý giải về nguyên nhân sụt giảm của xuất khẩu, Bộ Công Thương cho rằng là do yếu tố thị trường xuất khẩu, các ngành hàng đều gặp khó khăn do lạm phát cao, giảm tổng cầu trên phạm vi toàn thế giới, đặc biệt là hàng hoá tiêu dùng không thiết yếu. Tuy nhiên, tác động đến từng ngành hàng có sự khác nhau.
Cụ thể, những ngành hàng có thị trường xuất khẩu chính là Hoa Kỳ, EU,.. như dệt may, da giày, gỗ, thuỷ sản có mức sụt giảm nhiều nhất; trong khi các ngành hàng có thị trường xuất khẩu chính là châu Á như cao su, gạo, rau quả, hạt điều... ít chịu tác động hơn.
Bên cạnh đó, một số ngành hàng như thuỷ sản, gỗ và sản phẩm gỗ, sắt thép, sản phẩm nhựa đang đối mặt với các áp lực về điều tra phòng vệ thương mại. Vấn đề chi phí nguyên liệu vật tư đầu vào tăng cao cũng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu.
Tại hội nghị “Tháo gỡ khó khăn trong sản xuất kinh doanh và đẩy mạnh xuất khẩu” do Bộ Công Thương tổ chức ngày 25/4, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cũng đã nhấn mạnh: “Phải hỗ trợ doanh nghiệp có đơn hàng, bởi vì thời điểm này mất đơn hàng là mất thị trường”.
Chính vì vậy, để hỗ trợ cho việc tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu và mở rộng thị trường, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên đã yêu cầu các đơn vị (Cục Xúc tiến thương mại, Cục Xuất nhập khẩu, Cục Phòng vệ thương mại, Vụ Chính sách thương mại đa biên và các vụ thị trường trong và ngoài nước, Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia) chú trọng làm tốt công tác thông tin thị trường, nhất là thị trường tiềm năng thông qua việc tổ chức hội nghị giao ban định kỳ hàng tháng giữa Thương vụ Việt Nam với Hiệp hội ngành hàng và các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu lớn trong nước.
Bên cạnh đó, đổi mới, nâng cao hiệu quả các hoạt động xúc tiến thương mại, đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, nhất là thương mại điện tử xuyên biên giới nhằm thúc đẩy các chuỗi cung ứng, liên thông, mở rộng thị trường và đẩy mạnh xuất khẩu; đồng thời cần tiếp tục theo sát diễn biến của kinh tế thế giới nhất là chính sách và động thái chính sách mới của các nước lớn, các nước có tầm ảnh hưởng…. để tham mưu, tư vấn, phản ứng chính sách phù hợp…
Đặc biệt, chú trọng hướng dẫn, giúp đỡ các hiệp hội và doanh nghiệp khai thác, phát huy các thị trường truyền thống và khai mở thị trường mới, giàu tiềm năng như Bắc Âu, Đông Âu, Tây Á, Nam Á, châu Phi và Mỹ La tinh. Đồng thời khẩn trương hoàn tất các thủ tục cần thiết để ký Hiệp định thương mại tự do (FTA) với Israel, đẩy nhanh tiến độ đàm phán với UAE để vào thị trường Trung Đông và biến các FTA này thành động lực để khai thác thị trường Châu Mỹ La tinh, bao gồm: Brazil, Argentina, Paraguay và Uruguay...
Trải qua hơn bảy thập kỷ kể từ ngày tiếp quản Thủ đô năm 1954, công nghiệp Hà Nội từng bước phát triển, trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế. Bước vào năm 2026, sản xuất công nghiệp tiếp tục ghi nhận tín hiệu tích cực khi tăng trưởng 9 tháng đạt mức cao nhất trong gần một thập kỷ, góp phần thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng kinh tế Thủ đô.
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 41-2026 phát hành ngày 12/10/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Dù kim ngạch xuất khẩu cao, cà phê Robusta Việt Nam vẫn chủ yếu được biết đến như nguồn nguyên liệu cho các nhà rang xay quốc tế. Để thoát vai “làm nền”, ngành cà phê cần thu hẹp khoảng trống về thương hiệu, nâng cao giá trị chế biến và tăng cường liên kết trong chuỗi cung ứng…
Triển lãm quốc tế chuyên ngành Chăn nuôi, Thức ăn chăn nuôi và Chế biến thịt tại Việt Nam lần thứ 14 (Vietstock 2026) với chủ đề “Kiến tạo ngành chăn nuôi: Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh, nâng cao năng lực cạnh tranh”, sẽ diễn ra từ ngày 21 - 23/10/2026 tại TP.Hồ Chí Minh dưới sự chủ trì của Cục Chăn nuôi và Thú y, Bộ Nông nghiệp và Môi trường...
Hàng loạt dự án hạ tầng quy mô lớn đang mở ra thị trường mới cho ngành cơ khí TP.Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, quy mô đơn hàng không tự động tạo ra năng lực công nghiệp. Đây là thời điểm doanh nghiệp cơ khí phải tìm cách đi sâu hơn vào chuỗi cung ứng từ gia công, chế tạo đến thiết kế, tích hợp và làm chủ công nghệ...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Tuyệt đối không để nền kinh tế thiếu điện và thiếu xăng dầu, đó là khẳng định từ Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Chi. Kịch bản tăng trưởng kinh tế 3 tháng cuối năm cũng được xác định rõ để từng bộ, từng địa phương đều hoàn thành kế hoạch của cả năm, đưa kinh tế cả nước đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số.