Hơn 2.400 cơ sở phát thải phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính
Chọn cỡ chữ
Từ ngày 25/9/2026, 2441 cơ sở phát thải khí nhà kính ở 6 lĩnh vực sẽ phải thực hiện kiểm kê theo danh mục mới cập nhật năm 2026...
Kiểm kê khí nhà kính trong doanh nghiệp không chỉ phục vụ tuân thủ, báo cáo mà còn liên quan đến việc ra quyết định vận hành, đầu tư. Ảnh minh họa: Lighthouse
Theo danh mục lĩnh vực, cơ sở phát thải khí nhà kính phải thực
hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật) tại Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg, số lượng cơ sở phải kiểm kê có sự thay đổi lớn, tăng
lên 2.441, cao hơn 275 cơ sở so với danh mục của Quyết định 13/20242 (2.166 cơ
sở). Việc bổ sung hàng trăm cơ sở phản ánh nỗ lực rà soát dữ liệu từ các địa
phương và ngày càng nhiều doanh nghiệp được đưa vào phạm vi quản lý phát thải.
TỶ LỆ PHÂN BỐ CƠ SỞ PHẢI KIỂM KÊ KHÍ NHÀ KÍNH TRONG CÁC
NGÀNH, LĨNH VỰC
Các tiêu chí các cơ sở thuộc các lĩnh vực phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính vẫn áp dụng theo quy định tại Nghị định số 06/2022/NĐ-CP. Tuy
nhiên, về mặt cơ cấu giữa các ngành có sự thay đổi, trong đó công thương vẫn là
ngành có số lượng lớn nhất với 1.916 cơ sở, chiếm tỷ lệ gần 80% tổng số cơ sở
trong danh mục; ngành Xây dựng có 53 cơ sở thuộc lĩnh vực giao thông vận tải và
411 cơ sở thuộc lĩnh vực xây dựng; ngành Nông nghiệp và Môi trường có 61 cơ sở.
Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg về Danh mục lĩnh vực, cơ sở
phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính (cập nhật) có sự
thay đổi lớn về số lượng cơ sở. Tại Quyết định Danh mục cơ sở phải thực hiện kiểm
kê khí nhà kính lần đầu tiên được Chính phủ ban hành năm 2022 tại Quyết định số
01/2022/QĐ-TTg ngày 18/01/2022 có 1.912 cơ sở thuộc 6 lĩnh vực chính phải thực
hiện kiểm kê.
Đến năm 2024, tại Quyết định số 13/2024/QĐ-TTg, số lượng cơ
sở phát thải khí nhà kính phải thực hiện kiểm kê (cập nhật) đã tăng lên 2.166
cơ sở. Và theo Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg, số lượng cơ sở phải thực hiện kiểm
kê khí nhà kính cập nhật tăng lên 2.441 cơ sở.
Như vậy trong giai đoạn từ 2022- 2026, số cơ sở phải kiểm kê
khí nhà kính tăng thêm 529 cơ sở, trong đó giai đoạn từ năm 2022 đến 2044, tăng
thêm 254 cơ sở và giai đoạn 2024-2026, tăng thêm 275 cơ sở.
Cấu trúc theo các lĩnh vực, ngành Công Thương đang chiếm tỷ
lệ lớn nhất trong danh mục với số lượng cơ sở tăng qua các lần cập nhật (từ 1.662
cơ sở tại Quyết định số 01/2022/QĐ-TTg lên 1.805 trong Quyết định số
13/2024/QĐ-TTg và tăng lên 1.916 ở Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg.
Trong số 1.916 cơ sở của ngành Công thương thì công nghiệp
chế biến chế tạo chiếm tỷ trọng lớn nhất (93,5%) với 1.792 cơ sở. Phân tích số liệu, bà Nguyễn Thị Hà, Trưởng phòng Tư vấn Giải pháp, GREEN IN chỉ rõ con số này phản
ánh tình trạng phát thải của lĩnh vực này cần giải pháp tập trung giảm phát thải.
Theo bà Hà, việc tăng số cơ sở nhóm ngành chế biến nhằm mục tiêu quản lý phát
thải, đáp ứng yêu cầu trong nước cũng như quốc tế, đặc biệt là yêu cầu tiêu chuẩn
xanh.
Nhóm ngành chiếm tỷ trọng lớn nhất trong Quyết định 42 đó là
nhựa- cao su (19,3%) và dệt may (19%). Cụ thể, nhựa chiếm 327 cơ sở, cao su 322
cơ sở, dệt may 200 cơ sở, cơ khí, sản phẩm kim loại là 193 cơ sở và sắt thép-
luyện kim là 163 cơ sở. Trong khi đó, số cơ sở thuộc nhóm ngành điện- điện tử,
sản xuất hàng hóa khác lại có mức giảm nhiều nhất.
Theo phân bố địa phương, TP.Hồ Chí Minh, Tây Ninh, Đồng Nai,
Bắc Ninh, Hưng Yên là những tỉnh/thành phố có số lượng cơ sở phải kiểm kê khí
nhà kính lớn nhất. Thực tế so với những lần trước, danh mục cập nhật có sự thay
đổi rõ rệt ở các địa phương. Ví dụ như Tây Ninh, Ninh Bình, Hà Nội là những tỉnh/thành
phố có số lượng cơ sở tăng nhiều nhất. Trong khi, Hải Phòng, Đồng Nai và Tp.Hồ Chí
Minh mặc dù vẫn chiếm tỷ lệ cao nhưng lại có mức giảm mạnh về số cơ sở.
Những thay đổi trên cho thấy quản lý phát thải đang được mở
rộng để đảm bảo kiểm soát phát thải khí nhà kính bao phủ đa dạng các ngành nghề,
nhằm sản xuất bền vững, giảm phát thải, hướng tới phát thải ròng bằng
0 vào năm 2050 mà Việt Nam đã cam kết.
Còn lĩnh vực Xây dựng mặc dù có tỷ lệ cơ sở thấp hơn so với
lĩnh vực Công thương nhưng lại có mức tăng mạnh nhất số cơ sở qua các kỳ cập nhật
(từ 104 cơ sở tăng lên 411 cơ sở).
Trong khi đó lĩnh vực giao thông vận tải có xu hướng giảm số
cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính. Tuy nhiên, theo chuyên gia, việc giảm
số lượng cơ sở không đồng nghĩa với việc ngành giao thông vận tải ít phát thải.
Đây cũng là lĩnh vực đang phải chịu áp lực chuyển đổi, xanh
hóa, giảm phát thải. Bà Hà nêu thực tế các doanh nghiệp logistics đang chịu sức
ép lớn từ các khách hàng quốc tế về chuyển dịch, sử dụng các phương tiện vận
chuyển xanh. Với các đơn vị vận hành kho lạnh, đang áp dụng các giải pháp năng
lượng mặt trời mái nhà và chuyển đổi các môi chất lạnh gây hiệu ứng khí nhà
kính và tác động tới tầng ozone sang các môi chất lạnh thân thiện môi trường.
NHỮNG LƯU Ý VỚI CƠ SỞ, DOANH NGHIỆP TRONG TUÂN THỦ QUY ĐỊNH
KIỂM KÊ
Theo các chuyên gia, những cơ sở nằm trong danh mục sẽ phải
tuân thủ theo quy định và lộ trình giảm phát thải. Trước hết, các cơ sở phải thực
hiện kiểm kê và nộp báo cáo giảm nhẹ, lập kế hoạch giảm nhẹ phát thải, thực hiện
các biện pháp giảm nhẹ và lập báo cáo kết quả giảm nhẹ. Các cơ sở thuộc danh mục
kiểm kê khí nhà kính sẽ phải nộp báo cáo kiểm kê trước ngày 31/3/2027.
Về kỳ báo cáo, các cơ sở thuộc Quyết định 42/2026/QĐ-TTg có
hiệu lực thi hành từ 25/9/2026 sẽ phải lập và nộp báo cáo kiểm kê khí nhà kính
định kỳ 2 năm/lần nhưng báo cáo phải thể hiện kết quả của 2 năm liền kề năm nộp
báo cáo theo quy định của Nghị định 119.
Còn với các cơ sở được phân bổ hạn ngạch (nhóm ngành sắt
thép, xi măng, nhiệt điện), kỳ báo cáo sẽ nộp trước ngày 1/12/2027 và kỳ tiếp theo
trước ngày 1/12/2029. Các cơ sở được phân bổ hạn ngạch từ năm 2027 sẽ nộp báo
cáo trước ngày 1/12/2029. Đây là những mốc thời gian các doanh nghiệp, cơ sở cần
lưu ý để tuân thủ quy định.
Việc kiểm kê khí nhà kính trong doanh nghiệp không chỉ để tuân thủ, báo cáo mà còn liên quan đến việc ra quyết định vận hành, đầu tư. Đặc biệt với các doanh nghiệp bắt đầu triển khai sớm sẽ có lợi thế về khách hàng, tăng mức độ nhận diện thương hiệu và quan trọng hơn là đáp ứng yêu cầu tiêu chuẩn xanh của khách hàng và thị trường.
Cũng theo quy định, chỉ các cơ sở được phân bổ hạn ngạch
phát thải khí nhà kính mới phải tiến hành thẩm định báo cáo. Còn các cơ sở chưa
được phân bổ hạn ngạch chỉ phải nộp báo cáo về UBND cấp tỉnh mà không phải thẩm
định.
Cục Biến đổi Khí hậu cho biết hiện nay, yêu cầu báo cáo kiểm kê
khí nhà kính với các cơ sở thuộc danh mục tại Quyết định số 42/2026/QĐ-TTg ở Phạm
vi 2 (phát thải gián tiếp từ tiêu thụ điện, hơi). Còn với các cơ sở được phân bổ hạn ngạch
(110 cơ sở), chỉ yêu cầu ở Phạm vi 1 (phát thải trực tiếp từ tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch).
Đối với các cơ sở vi phạm, theo quy định tại Nghị định
45/2022/NĐ-CP, những đơn vị nộp báo cáo nhưng thông tin không chính xác, đầy đủ
sẽ bị phạt tiền tối đa 20 triệu đồng. Những đơn vị không lập báo cáo, mức phạt
tối đa 100 triệu đồng.
Bà Hà nhấn mạnh rằng việc kiểm kê khí nhà kính trong doanh
nghiệp không chỉ để tuân thủ, báo cáo mà còn liên quan đến việc ra quyết định vận hành, đầu
tư. Đặc biệt với các doanh nghiệp bắt đầu triển khai sớm sẽ có lợi thế về khách
hàng, tăng mức độ nhận diện thương hiệu và có thể tiếp cận được các nguồn tài
chính xanh.
Không những thế, việc giảm phát thải, chuyển đổi xanh cũng giúp sản
phẩm hàng hóa của doanh nghiệp tham gia vào chuỗi cung ứng, đáp ứng các yêu cầu
tiêu chuẩn xanh ngày càng khắt khe của thị trường lớn như EU…
Điều quan trọng trước hết các doanh nghiệp phải thực hiện kiểm
kê, đo lường dữ liệu phát thải, xác định chính xác các khâu phát thải nhiều nhất,
tiêu tốn nhiên liệu nhất để có giải pháp giảm về mức thấp nhất có thể. Khi các
doanh nghiệp đã triển khai kiểm kê khí nhà kính, có giải pháp giảm phát thải
thì có thể tiến tới lộ trình trung hòa carbon với các biện pháp, mục tiêu cụ thể
trong sản xuất bền vững, hướng tới giảm phát thải tối đa. Với những phát thải
không thể giảm, các doanh nghiệp có thể bù đắp bằng tín chỉ.
Kiểm kê khí nhà kính là quy trình thu thập dữ liệu, tính
toán và báo cáo lượng phát thải và hấp thụ khí nhà kính từ các hoạt động sản xuất,
kinh doanh của doanh nghiệp. Mục tiêu kiểm kê nhằm chuyển dữ liệu vận hành
thành bức tranh phát thải rõ ràng có thể kiểm chứng và sử dụng để ra quyết định
đến vấn hành, kinh doanh hướng tới tối ưu chi phí và sử dụng tài nguyên của
doanh nghiệp. Có 3 phạm vi kiểm kê gồm Phạm vi 1 (nguồn phát thải trực tiếp từ
tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch); phạm vi 2 (nguồn phát thải gián tiếp từ tiêu thụ điện, hơi) và phạm
vi 3 (phát thải trong chuỗi giá trị, vòng đời sản phẩm).
Xe buýt điện ngày càng phổ biến tại các đô thị châu Âu, nhưng chi phí đầu tư, tốc độ chuyển đổi chậm và sự phụ thuộc vào ô tô cá nhân vẫn là những thách thức đối với mục tiêu phát thải bằng 0 của khu vực…
Bộ tiêu chuẩn ra đời là cơ sở để tiến hành công tác thành lập các bản đồ địa chất môi trường trong từng loại khoáng sản độc hại; làm cơ sở tham chiếu để bổ sung và hoàn thiện các quy định liên quan; xây dựng bộ đơn giá cụ thể cho từng hạng mục công việc trong công tác điều tra, đánh giá và thành lập bộ bản đồ môi trường khoáng sản độc hại.
Ngoài chia sẻ về các chính sách, công cụ kiểm kê, giảm phát thải khí nhà kính; các tổ chức, đơn vị, cơ sở phát thải lớn còn thực hành kỹ thuật kiểm kê cho 4 lĩnh vực trọng điểm gồm: năng lượng; các quá trình công nghiệp; nông nghiệp, lâm nghiệp và sử dụng đất; chất thải…
Thiên tai có thể xảy ra bất cứ lúc nào, nhưng thiệt hại không phải điều con người buộc phải chấp nhận. Chuyển từ tư duy ứng phó sang quản trị rủi ro, chủ động phòng ngừa và nâng cao kỹ năng cho người dân là những giải pháp quan trọng để xây dựng cộng đồng an toàn, có khả năng chống chịu tốt hơn...
Chuyển đổi xanh, phát triển xanh vừa là yêu cầu tất yếu, vừa là cơ hội để đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế...
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Trong 9 tháng năm 2026, Đồng Nai thu hút gần 2,4 tỷ USD vốn FDI, đạt gần 80% kế hoạch năm, với dòng vốn chủ yếu tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp hỗ trợ và logistics.
Ngày 2/9/1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ khẳng định quyền độc lập, tự do và tự quyết về chính trị, mà còn trao...
VnEconomy cập nhật giá vàng trong nước & thế giới hôm nay: SJC, 9999, giá vàng USD/oz, biến động giá vàng tăng, giảm - phân tích, dự báo & dữ liệu lịch sử.
Nhìn lại di sản và thành tựu của Thời báo Kinh tế Việt Nam - Tạp chí Kinh tế Việt Nam trong 35 năm qua, giá trị lớn nhất không chỉ đo bằng lượng thông tin phục vụ bạn đọc hàng ngày, hàng giờ, cũng...
Interactive là một sản phẩm báo chí mới của VnEconomy vừa được ra mắt bạn đọc từ đầu tháng 3/2023 đã gây ấn tượng mạnh với độc giả bởi sự mới lạ, độc đáo. Đây cũng là sản phẩm độc quyền chỉ có trên...