Năm 2026 đang khép lại, nhưng đây là một năm mang lại cho chúng ta nhiều bài học liên quan đảm bảo an ninh năng lượng cho đất nước. Từ cuối tháng 2/2026, eo biển Hormuz gần như bị đóng. Thế giới mất khoảng 11 triệu thùng dầu mỗi ngày. Giá dầu vượt 100 USD và hiện nay dầu Brent đóng cửa tuần ở mức 116,93 USD/thùng. Cơ quan Năng lượng Quốc tế phải xả kho 400 triệu thùng, mức lớn nhất từ trước đến nay. Ở Việt Nam, ngày 10/3/2026, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Petrovietnam khai thác tối đa và nghiên cứu lập dự trữ dầu thô quốc gia. Một nước mỗi năm nhập hơn 14 triệu tấn dầu thô và gần 10 triệu tấn xăng dầu thì dầu khí là vấn đề an ninh quốc gia chứ không chỉ là chuyện kinh tế.
Chúng ta cũng đang ở một thời điểm rất quan trọng. Luật Dầu khí mới được Quốc hội thông qua ngày 23/8/2026, có hiệu lực từ 1/3/2027. Nghị định hướng dẫn vừa hết hạn góp ý ngày 24/10/2026 và sẽ trình Chính phủ trong tháng 12. Như vậy, chúng ta còn chút thời gian tham khảo kinh nghiệm quốc tế để hoàn thiện khung thể chế liên quan ngành dầu khí quốc gia.
Bài viết này trả lời bốn câu hỏi. Thế giới có những mô hình nào đáng tham khảo? Mỗi mô hình mạnh ở đâu, yếu ở đâu và thất bại ở đâu? Mô hình của Việt Nam đứng ở đâu khi so với các mô hình quốc tế? Việt Nam có thể tham khảo thêm từ mô hình nào?
Thế giới có nhiều cách tổ chức ngành dầu khí, nhưng tựu trung có bốn mô hình đáng để tham khảo.
Mô hình thứ nhất, Na Uy: Nhà nước tách bạch ba vai. Ngay từ năm 1971, trước khi có dòng dầu lớn, Quốc hội Na Uy đã thông qua mười nguyên tắc về dầu khí. Năm 1972, Na Uy lập cùng lúc công ty Statoil và Cục Dầu khí. Bộ làm chính sách, Cục quản lý kỹ thuật, công ty làm kinh doanh. Thuế rất cao, 78%, nhưng thuế suất đó không thay đổi suốt nhiều thập kỷ. Tiền dầu không chi ngay mà gửi vào một quỹ, nay trị giá hơn 2.000 tỷ USD. Ngân sách mỗi năm chỉ được rút khoảng 3% giá trị quỹ. Dữ liệu địa chất được lưu chung trong một kho quốc gia từ năm 1995. Mỗi năm có một vòng mời thầu theo lịch công bố trước.
Mô hình thứ hai, Malaysia: một công ty quốc gia nắm tất cả. Đạo luật năm 1974 giao toàn bộ quyền với tài nguyên dầu khí cho Petronas. Petronas vừa quản lý nhà thầu, vừa trực tiếp khai thác, vừa đầu tư ra hơn 20 nước. Họ liên tục thay đổi loại hợp đồng cho hợp với từng loại mỏ: mỏ nhỏ, mỏ sắp hết, mỏ nước sâu. Mỗi năm, Malaysia chi khoảng 500 triệu ringgit khảo sát địa chất rồi cấp miễn phí cho nhà đầu tư. Nhờ vậy, năm 2024 đầu tư thượng nguồn của Malaysia đạt mức cao nhất trong lịch sử.
Mô hình thứ ba, Vùng Vịnh, với Saudi Aramco và ADNOC: Nhà nước sở hữu, nhưng hạch toán rất chặt. Hai công ty này không ép nhà thầu phải dùng bao nhiêu phần trăm hàng trong nước. Họ chấm điểm từng nhà cung cấp: hàng sản xuất tại chỗ, lương trả cho người bản xứ, đào tạo, nghiên cứu. Điểm đó được kiểm toán độc lập và tính vào kết quả đấu thầu. ADNOC công bố rõ: điểm giá trị nội địa chiếm 40% điểm tài chính. Họ cũng bán bớt cổ phần ở đường ống, dịch vụ khoan để lấy vốn, nhưng vẫn giữ quyền kiểm soát.
Mô hình thứ tư, Brazil và Guyana: mở cửa cho nhà đầu tư nước ngoài, công ty quốc gia phải cạnh tranh. Brazil từ năm 2016 bỏ quy định Petrobras bắt buộc làm nhà điều hành, hạ yêu cầu nội địa hóa, sản lượng tăng một nửa trong chín năm, lên mức kỷ lục 3,77 triệu thùng mỗi ngày. Guyana phát hiện dầu tháng 5/2015, có dầu tháng 12/2019, chưa đầy 5 năm; nay đã khai thác 750 nghìn thùng mỗi ngày.
Ngoài ra, còn một trường hợp đặc biệt là Hàn Quốc: không có một giọt dầu, nhưng có công suất lọc dầu 3,4 triệu thùng mỗi ngày, xuất khẩu 45 tỷ USD sản phẩm xăng dầu mỗi năm và đóng hơn 90% số tàu chở khí hóa lỏng đặt hàng trên thế giới năm 2025.
Na Uy mạnh nhất ở sự ổn định và kỷ luật. Quỹ của họ nay tài trợ hơn một phần tư chi tiêu ngân sách, lợi nhuận đầu tư của quỹ đã lớn gấp đôi số tiền dầu nộp vào, nhưng mô hình này đòi hỏi bộ máy rất giỏi và tài nguyên lớn; nhiều nước bắt chước mà không thành. Bên kia Biển Bắc là một thất bại: nước Anh. Cùng một vùng biển, nhưng Anh đổi thuế tám lần từ năm 2002. Chỉ trong hai năm, thuế lợi nhuận năng lượng tăng từ 25% lên 38%. Hậu quả: dự báo thu thuế giảm từ 65,7 tỷ Bảng xuống 21,1 tỷ bảng, nhà đầu tư rút đi, sản lượng chỉ còn một phần năm so với đỉnh, và không có một đồng nào được để dành.
Malaysia mạnh ở sự linh hoạt và năng lực kinh doanh, nhưng Petronas vừa làm trọng tài vừa đá bóng, nên luôn có câu hỏi về minh bạch. Ngân sách Malaysia từng dựa tới 35% vào dầu khí năm 2015, nay chỉ còn 12,5%, vì sản lượng dầu đã giảm một nửa và Malaysia phải nhập khẩu ròng dầu từ năm 2014. Gần đây, tranh chấp giữa Petronas và bang Sarawak về quyền phân phối khí đã khiến ConocoPhillips rút khỏi một dự án nước sâu.
Vùng Vịnh mạnh ở cách đo nội địa hóa: Aramco đi từ 35% năm 2015 lên 70% năm 2025, tạo hơn 200 nghìn việc làm. Tuy nhiên, Vùng Vịnh có nguồn lực khổng lồ mà Việt Nam không có, do đó Việt Nam không học được quy mô của họ nhưng ta có thể tham khảo cách đánh giá tỷ lệ nội địa hóa.
Brazil mạnh về công nghệ nước sâu, nhưng đã thất bại một lần. Giai đoạn 2010-2016, Brazil ép Petrobras làm nhà điều hành mọi lô, ép nội địa hóa tới 55-65%. Kết quả là dự án chậm, chi phí đội lên và vụ tham nhũng lớn khiến giá trị Petrobras giảm 50 tỷ real, gánh nợ 132 tỷ USD. Brazil chỉ phục hồi sau khi sửa luật năm 2016. Từ năm 2023, can thiệp chính trị đang quay lại: năm 2026, Brazil đánh thuế xuất khẩu dầu thô để trợ giá diesel.
Hai thất bại rõ nhất là Indonesia và Mexico. Indonesia từng là thành viên OPEC với 1,4 triệu thùng mỗi ngày, nay còn 580 nghìn thùng và phải nhập khẩu từ năm 2004. Không phải vì hết dầu, mà vì luật chơi thay đổi liên tục: năm 2012 giải thể cơ quan quản lý, năm 2017 đổi mô hình hợp đồng, năm 2020 sửa lại, năm 2024 lại sửa. Mỏ khí Abadi phát hiện năm 2000, đến nay vẫn chưa quyết định đầu tư.
Mexico thì đi ngược: mở cửa năm 2013, rồi đóng lại từ năm 2018, trao mọi ưu tiên cho Pemex. Sản lượng từ 3,4 triệu thùng mỗi ngày năm 2004 còn 1,7 triệu. Năm 2025, Chính phủ phải bơm 22 tỷ USD cho Pemex trả nợ, trong khi vốn của Pemex đã âm 106 tỷ USD.
Hàn Quốc cũng có thất bại: công ty dầu khí quốc gia KNOC đi mua mỏ ở nước ngoài theo mục tiêu chính trị, lỗ gần 2 tỷ USD và mất hết vốn vào năm 2020.
Nhìn chung, các mô hình thất bại đều có ba điểm chung: luật chơi đổi liên tục, công ty quốc gia bị giao quá nhiều nhiệm vụ chính trị ngoài mục tiêu kinh doanh, tiền thu được từ dầu khí được tiêu hết thay vì đầu tư trở lại.
Việt Nam dùng hợp đồng phân chia sản phẩm từ thập niên 1980, giống Malaysia và Indonesia. Petrovietnam vừa là nhà thầu, vừa thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao, nên về cấu trúc ta gần với mô hình Petronas. Bộ Công Thương quản lý nhà nước, Chính phủ quyết các vấn đề lớn.
Về kết quả, Việt Nam có cả những điểm sáng và thách thức. Điểm sáng: sản lượng dầu năm 2025 tăng trở lại lần đầu sau 11 năm giảm; 9 tháng đầu năm 2026, sản lượng trong nước tăng 10,4%. Năm 2025, Petrovietnam nộp ngân sách nhà nước gần 166 nghìn tỷ đồng, chiếm 7-8% tổng thu. PTSC đã xuất khẩu chân đế và trạm biến áp điện gió ngoài khơi sang thị trường Đài Loan và châu Âu từ chính xưởng chế tạo giàn dầu khí. Điểm cần lưu ý: sản lượng dầu chỉ còn khoảng một nửa so với đỉnh năm 2004. Mỏ Bạch Hổ đã khai thác 40 năm. Tiềm năng còn lại nằm ở vùng nước sâu, xa bờ, rủi ro cao. Dự trữ xăng dầu của Việt Nam vẫn còn thấp so với mục tiêu 90 ngày nhập ròng mà Nghị quyết số 70-NQ/TW, đặt ra cho năm 2030.
Luật Dầu khí 2026 đã sửa đúng nhiều chỗ. Luật giữ nguyên các mức thuế ưu đãi của năm 2022, tức là không gây xáo trộn. Luật thêm cơ chế riêng cho mỏ cận biên, thêm 10% thu hồi chi phí cho ai áp dụng công nghệ nâng cao hệ số thu hồi, mở rộng khai thác tận thu, giao nhiều quyền phê duyệt cho Petrovietnam và lần đầu có chương về lưu trữ CO2 và năng lượng ngoài khơi.
So với thế giới, Việt Nam giống Na Uy ở chỗ Nhà nước giữ quyền quản lý tài nguyên, nhưng khác Na Uy ở ba điểm: chưa có kho dữ liệu mở, chưa có lịch mời thầu hằng năm và chưa tách bạch rõ phần kinh doanh với phần nhiệm vụ chính trị Nhà nước giao của Petrovietnam.
Việt Nam giống Malaysia về cấu trúc, vì thế cũng mang rủi ro giống Malaysia về vai kép. Việt Nam có nguy cơ giống Indonesia nếu nghị định cứ sửa đi sửa lại (Việt Nam vừa sửa luật chỉ ba năm sau luật trước) và giống Mexico nếu Tập đoàn phải gánh thêm quá nhiều nhiệm vụ không sinh lời mà không được bù đắp minh bạch.
Việt Nam không nên sao chép nguyên mô hình nào, nhưng có thể tham khảo ba điều từ ba mô hình quản lý. Lấy nguyên tắc của Na Uy, cách làm của Malaysia và thước đo của Vùng Vịnh. Tuyệt đối tránh con đường của Indonesia và Mexico.
Từ Na Uy, có thể tham khảo ba nguyên tắc. Thứ nhất, ổn định là ưu đãi lớn nhất: nghị định phải giữ nguyên tắc không hồi tố, đã ban hành thì không sửa trong nhiều năm. Thứ hai, dữ liệu là ưu đãi ít tốn kém nhất: cơ sở dữ liệu tài nguyên mà ta từng xây dựng với Na Uy nên trở thành kho dữ liệu mở cho nhà đầu tư. Thứ ba, tách bạch rõ nhiệm vụ chính trị và hiệu quả kinh doanh: công khai hằng năm chi phí các nhiệm vụ Nhà nước mà Petrovietnam được giao làm, đánh giá lãnh đạo Tập đoàn theo hiệu quả kinh doanh.
Từ Malaysia, Việt Nam có thể tham khảo cách xử lý linh hoạt các hợp đồng: mỗi loại mỏ một loại hợp đồng; mời thầu hằng năm theo lịch công bố trước; cấp thông tin khảo sát địa chất miễn phí để kéo nhà đầu tư đến. Liên doanh Vietsovpetro hết hạn năm 2030; nên dùng ngay các điều khoản gia hạn và hợp đồng mỏ cuối đời của Luật Dầu khí 2026 cho Bạch Hổ.
Từ Vùng Vịnh, học cách tăng tỷ lệ nội địa hoá. Dự thảo Nghị định đã cho cộng điểm kỹ thuật khi nhà thầu cam kết dùng dịch vụ công nghệ cao trong nước. Hãy đi thêm một bước, cung cấp chứng chỉ giá trị nội địa được kiểm toán, có trọng số công bố trước. Tránh bẫy tỷ lệ cứng của Brazil.
Cuối cùng, cần học Hàn Quốc về bảo đảm dự trữ chiến lược về dầu khí. Hàn Quốc giữ dự trữ khoảng 200 ngày sử dụng và đã xả 22 triệu thùng ngay trong tháng đầu khủng hoảng eo biển Hormuz. Dự trữ là chi phí hôm nay, nhưng là điều then chốt đảm bảo chủ quyền ngày mai.
Na Uy là đối tác quan trọng cần hết sức quan tâm, là nước đã đồng hành với dầu khí Việt Nam từ năm 1977, khi Viện Dầu khí ra đời bằng viện trợ của Na Uy. Na Uy đã giúp Việt Nam xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên, hệ thống an toàn và môi trường, hỗ trợ sửa Luật Dầu khí năm 2008. Ngày 18/10/2026, Việt Nam đã ký Hiệp định thương mại tự do với Khối EFTA, trong đó có Na Uy. Đây là cơ hội tăng cường hợp tác và tham khảo kinh nghiệm.
Tài nguyên dầu khí là của trời cho, nhưng công nghiệp dầu khí là do con người xây dựng bằng thể chế. Na Uy không giàu vì có dầu mà Na Uy giàu vì chọn đúng cách làm từ năm 1971 và kiên trì suốt nửa thế kỷ.
Luật Dầu khí 2026 đã mang lại cho chúng ta cơ hội mới để phát triển mạnh mẽ hơn nữa ngành dầu khí. Nếu Nghị định sắp tới giữ được sự ổn định của Na Uy, sự linh hoạt của Malaysia, sự đảm bảo tỷ lệ nội địa hóa của Vùng Vịnh, tránh được vết xe đổ của Indonesia và Mexico, thì ngành dầu khí sẽ không chỉ góp phần quan trọng cho mục tiêu tăng trưởng hai con số, mà còn trở thành nền tảng của ngành công nghiệp năng lượng biển Việt Nam hiện đại.
(*) Đại sứ Vũ Quang Minh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao.
Nội dung bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 44-2026 phát hành ngày 2/11/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại đây:
Link: https://premium.vneconomy.vn/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-44-2026.html
Hội nghị Khoa học Chăn nuôi Á - Úc lần thứ 21 (AAAP 2026) đã khép lại sau 3 ngày làm việc với nhiều hoạt động trao đổi học thuật, kết nối khoa học và doanh nghiệp. Một trong những kết quả quan trọng của Hội nghị là việc thông qua Thông điệp Hà Nội về phát triển chăn nuôi bền vững...
Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi giải quyết được những bài toán cụ thể của chính quyền, doanh nghiệp và người dân...
Hoạt động xuất nhập khẩu tại Thanh Hóa tăng trưởng 20-30% trong 10 tháng đầu năm 2026, mang về hơn 23.500 tỷ đồng thu ngân sách. Tuy nhiên, để cảng biển Nghi Sơn phát huy tối đa lợi thế, địa phương cần giải bài toán thu hút nguồn hàng, kết nối doanh nghiệp và hoàn thiện hệ sinh thái logistics...
Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 44-2026 phát hành ngày 02/11/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...
Tri ân người tiêu dùng không chỉ dừng lại ở các chương trình khuyến mại, sự kiện mua sắm, mà sự tri ân thiết thực nhất chính là cung cấp cho người tiêu dùng những sản phẩm tốt hơn, dịch vụ tốt hơn, giá cả hợp lý hơn và cơ chế bảo vệ quyền lợi hiệu quả hơn…
Từ những công trình kiến trúc cổ kính đến không gian Hoàng cung được tái hiện bằng công nghệ số, di sản Huế đang được kể lại bằng ngôn ngữ mới, đưa những câu chuyện lịch sử đến gần hơn với thế hệ trẻ.
Từ những công trình kiến trúc cổ kính đến không gian Hoàng cung được tái hiện bằng công nghệ số, di sản Huế đang được kể lại bằng ngôn ngữ mới, đưa những câu chuyện lịch sử đến gần hơn với thế hệ trẻ.