Từ tháng 3 đến tháng 7/2026, miền Bắc ghi nhận 9 đợt nắng nóng diện rộng, cao hơn số đợt trong cả năm 2025. Tổng số ngày nắng nóng trung bình đạt khoảng 35 ngày; riêng Hà Nội ghi nhận 40 ngày. Nhiều trạm quan trắc ghi nhận mức nhiệt cao vượt kỷ lục.
Những số liệu này cho thấy nắng nóng đang đặt ra thách thức ngày càng lớn với môi trường và hoạt động của các công trình tại Việt Nam. Trong đó, khả năng chống chịu nhiệt đang trở thành một vấn đề cần được quan tâm. Bài toán đặt ra là làm thế nào để công trình hạn chế hấp thụ nhiệt ngay từ khâu thiết kế, duy trì điều kiện tiện nghi và an toàn cho người sử dụng, đồng thời kiểm soát nhu cầu năng lượng trong suốt quá trình vận hành.
Tại Diễn đàn “công trình chống chịu nắng nóng với chủ đề: hơn cả làm mát- Ai sẽ dẫn dắt nỗ lực ứng phó với nắng nóng khắc nghiệt của khu vực châu Á- Thái Bình Dương và Việt Nam trong khi vẫn bám sát lộ trình Net Zero?” do Hội đồng Công trình Xanh Việt Nam (VGBC) tổ chức, các chuyên gia đưa ra các nhận định về thực trạng biến đổi khí hậu, nắng nóng gia tăng. Diễn đàn cũng thảo luận các giải pháp nâng cao khả năng chống chịu nắng nóng của công trình trước thách thức biến đổi khí hậu.
Đặt vấn đề vì sao khả năng chống chịu nhiệt, nắng nóng trở thành hướng đi tiếp theo cho các công trình, tòa nhà NetZero, ông Douglas Snyder, Giám đốc điều hành, Hội đồng Công trình Xanh Việt Nam (VGBC) nêu thực tế nhiệt độ, nắng nóng ngày một tăng, tác động mạnh đến cuộc sống của con người cũng như hoạt động kinh doanh.
Dự báo cho thấy nhiệt độ tại khu vực miền Bắc và miền Nam (đồng bằng sông Cửu Long) sẽ ngày càng tăng cao, đặc biệt là trong vòng 25 năm tới (đến năm 2050), số ngày có nhiệt độ rất cao (khoảng 38–39 độ C) sẽ tăng từ 20-60 ngày mỗi năm.
Nhiệt độ trung bình trên toàn lãnh thổ Việt Nam có xu hướng tăng, với mức tăng cao nhất lên tới 4,7 độ C vào năm 2100.
Ông Douglas Snyder cho rằng điều này sẽ tác động tới sức khỏe con người, mức độ tiện nghi khi làm việc tại văn phòng hay ở nhà. Nắng nóng tăng cũng gây sức ép tới hạ tầng năng lượng. Bởi khi nhu cầu sử dụng điều hòa không khí tăng mạnh, nếu hệ thống điện gặp sự cố, hệ thống phát điện sẽ chịu áp lực lớn. Nhu cầu sử dụng điện tại châu Á và Đông Nam Á dự báo sẽ tiếp tục tăng, đòi hỏi công suất phát điện phải tăng từ 40-50 triệu kW mỗi năm nếu không nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.
Đối với tài chính và bất động sản, các công trình và tài sản đầu tư gắn liền với rủi ro vận hành. Hiện nay, các tổ chức bảo hiểm tài chính quốc tế đã bắt đầu đưa các chỉ số về chứng chịu nhiệt (chứng nhận nhiệt) vào trong quá trình đánh giá tài sản, phòng chống rủi ro lũ lụt và sức nóng…
Chia sẻ vấn đề này, bà Joy Gai, Giám đốc khu vực châu Á- Thái Bình Dương của Hội đồng công trình Xanh Thế giới (WorldGBC) cũng chỉ rõ thực tế nhiệt độ khu vực và thế giới ngày càng tăng cao, xuất hiện các đợt sóng nhiệt gay gắt (như tại Anh, Canada, Pháp, Nhật Bản..). “Nhiệt là vấn đề cấp bách hàng đầu trong các thảo luận về khả năng chống chịu, đe dọa trực tiếp đến đời sống con người và hoạt động của các ngành công nghiệp”, bà Joy Gai nói.
Nhìn nhận những thách thức tác động từ biến đổi khí hậu tới hạ tầng và kinh tế, chuyên gia Hội đồng công trình Xanh Thế giới cho rằng nhu cầu làm mát (điều hòa) tăng cao làm gia tăng áp lực lớn lên hệ thống năng lượng và phát thải khí nhà kính. Sức nóng và biến đổi khí hậu đặt ra rủi ro lớn đối với các tài sản đầu tư tài chính và bất động sản, đặc biệt khi các trung tâm dữ liệu (phục vụ AI) ngày càng mở rộng.
Từ thực tế trên đòi hỏi phải sớm áp dụng các biện pháp thích ứng, giảm những tác động tiêu cực từ nắng nóng và nhiệt độ tăng có thể xảy ra, bảo vệ tài sản, công trình vận hành trong môi trường đang có nhiều thay đổi.
Đề cao tầm quan trọng của giải pháp thích ứng với thiết kế thụ động, ông Douglas Snyder cho biết đây là phương pháp kiến trúc giúp làm mát tự động, giảm tải hệ thống làm mát cơ khí, từ đó giảm chi phí vận hành và giảm phát thải carbon.
“Tất cả các vấn đề về quản lý nhiệt, sử dụng năng lượng hiệu quả, bảo vệ mạng sống, đảm bảo an ninh năng lượng và giảm phát thải carbon đều có mối liên hệ mật thiết với nhau. Việc áp dụng các thiết kế thụ động và tiêu chuẩn công trình xanh từ sớm chính là chìa khóa để phát triển bền vững trong tương lai,” ông Douglas Snyder khẳng định.
Chia sẻ kinh nghiệm từ các khách sạn tại Việt Nam, ông Lawrence Mbanu, Giám đốc Quản lý Dự án, Indochina Kajima, cho biết việc tối ưu hệ mặt dựng và che nắng đã giúp giảm công suất điều hòa mỗi phòng từ 3,6 kW xuống 2,2 kW, đồng thời tiết kiệm khoảng 20% tổng điện năng tòa nhà.
Còn từ góc độ Hội đồng công trình xanh thế giới, bà Joy Gai nhấn mạnh rằng trong thiết kế công trình cần áp dụng kết hợp các giải pháp kỹ thuật, thiết kế thụ động và chủ động, hệ thống thông gió tự nhiên, tăng mảng xanh và các vật liệu phản xạ nhiệt để giảm phát thải carbon và tối ưu năng lượng.
Đáng chú ý, trong phần chia sẻ, bà Joy Gai đã đưa ra năm trụ cột quan trọng cho công trình xây dựng hướng tới mục tiêu Net Zero. Thứ nhất, sự chỉ đạo và lãnh đạo là trụ cột quan trọng nhất. Đây là yếu tố cốt lõi định hình hướng đi, chiến lược quốc gia, lộ trình và kế hoạch hành động cũng như xây dựng hoàn thiện khung pháp lý. Điều này sẽ giúp định hướng nguồn lực, thu hút doanh nghiệp và tạo điều kiện để các cơ quan quản lý đưa ra các ưu tiên phát triển.
Thứ hai, về các giải pháp kỹ thuật công nghệ, chuyên gia này cho rằng cần tận dụng tối đa các công nghệ và giải pháp thiết kế đã có sẵn trên thực tế; đồng thời kết hợp linh hoạt giữa thiết kế thụ động (passive design), thiết kế chủ động, các hệ thống thông gió tự nhiên, đưa các yếu tố thiên nhiên vào công trình. Mục tiêu quan trọng nhất là hướng đến giảm phát thải carbon, giảm nhiệt độ bề mặt tòa nhà, nâng cao sự tiện nghi và an toàn cho con người.
Thứ ba, tài chính và đầu tư bền vững: tài chính đóng vai trò quyết định và là tiếng nói định hướng các phong trào chuyển đổi xanh. Bà cũng lưu ý việc đánh giá rủi ro nhiệt đối với các quyết định đầu tư tài chính (đặc biệt trong bối cảnh các trung tâm dữ liệu AI phát triển mạnh).
Thứ tư, quản trị và phân tích dữ liệu: dữ liệu là ngôn ngữ chung để giao tiếp, đo lường hiệu suất, hiệu quả của các giải pháp công trình và năng lượng. Tuy nhiên, thách thức lớn là đo lường cảm nhận thực tế của con người đối với các giải pháp chống chịu nhiệt. Theo chuyên gia này, cần xây dựng sự thấu hiểu lẫn nhau giữa các loại dữ liệu để chuyển hóa thành các quyết định chính sách và đầu tư chuẩn xác.
Thứ năm, tư duy và hành động: các giải pháp, cơ hội và hiểu biết cơ bản đều đã sẵn sàng, nhưng yếu tố quyết định tốc độ thành công là sự kích hoạt tư duy của con người.
“Việc thay đổi tư duy, kích hoạt hành động và nâng cao nhận thức của con người chính là chìa khóa then chốt để thúc đẩy quá trình chuyển đổi xanh, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0”, bà Joy Gai nhấn mạnh.
Thảo luận chủ đề này, các chuyên gia đặt ra khả năng xây dựng tiêu chuẩn chống chịu nhiệt tối thiểu cho công trình mới, việc đưa tiện nghi nhiệt vào các tiêu chí đánh giá và báo cáo, cũng như định hướng cập nhật quy chuẩn để đáp ứng những thách thức từ biến đổi khí hậu.
Hiện nay, các quy định QCXDVN 09:2005, QCVN 09:2017/BXD đến QCVN 04-3:2026/BXD đã từng bước được cập nhật, song phạm vi áp dụng vẫn chủ yếu tập trung vào một số công trình có điều hòa không khí. Việc mở rộng yêu cầu chống chịu nhiệt cần có lộ trình phù hợp, dựa trên đặc điểm công trình, điều kiện khí hậu và cơ sở dữ liệu kiểm chứng.
Về đề xuất áp dụng Tiêu chuẩn Chống chịu nhiệt tối thiểu vào năm 2030, Việt Nam đã có những nền tảng ban đầu từ quy định về vỏ công trình, các chỉ tiêu tiện nghi nhiệt trong TCVN 5687:2024 và định hướng dán nhãn năng lượng vật liệu xây dựng, góp phần bảo vệ sức khỏe, giảm phụ tải điện và tăng tính minh bạch của thị trường.
Tuy nhiên, những vấn đề về tính pháp lý, ngưỡng nhiệt an toàn trong điều kiện cực đoan, chi phí và năng lực kiểm định vẫn cần được cân nhắc. Ông Vũ Văn Dũng, Phó Viện trưởng Viện Vật liệu xây dựng, cho rằng việc áp dụng bắt buộc đồng loạt cho mọi công trình vào năm 2030 sẽ khó khả thi.
“Để áp dụng thành công vào năm 2030, cần thêm thời gian để chuẩn hóa các chỉ tiêu, phương pháp thử nghiệm, lựa chọn nhà tư vấn để tối ưu hóa chi phí đầu tư (tránh làm tăng chi phí quá nhiều cho người dân), đồng thời đơn giản hóa các thủ tục hành chính,” ông Dũng nói.
Nga đang phát triển đoàn tàu cao tốc đầu tiên do nước này tự chế tạo, có thể đạt tốc độ 400 km/h và chở tối đa 460 hành khách. Việc ứng dụng AI trong hỗ trợ vận hành, kết hợp các giải pháp giảm khối lượng đoàn tàu, tiếng ồn và tiêu thụ năng lượng, được kỳ vọng nâng cao hiệu quả công nghệ đường sắt…
Kịch bản biến đổi khí hậu cho Việt Nam (cập nhật năm 2025) vừa công bố đưa ra 3 kịch bản tương ứng với các mức phát thải và phát triển kinh tế xã hội khác nhau. Điểm đáng chú ý, kịch bản đã bước đầu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu với một số ngành/lĩnh vực nhạy cảm của Việt Nam như sản xuất lúa; sức khỏe cộng đồng; đô thị và công trình…
Biến đổi khí hậu đang đặt ra những thách thức lớn cho các địa phương ven biển, đặc biệt là tại tỉnh Đắk Lắk và Khánh Hòa. Tuy nhiên, thay vì đến khi thiên tai xảy ra mới ứng phó, người dân nơi đây đã chủ động chuẩn bị trước, giảm thiểu thiệt hại và tìm kiếm những giải pháp bền vững hơn...
Chính phủ Hàn Quốc đặt mục tiêu đạt công suất năng lượng tái tạo 100 GW vào năm 2030 và hướng tới việc xe điện cùng xe chạy bằng hydro chiếm hơn 70% doanh số bán xe mới vào năm 2035...
Mực nước biển dâng và xâm nhập mặn đang đe dọa sinh kế, văn hóa và sự tồn tại của nhiều quốc đảo Thái Bình Dương, thúc đẩy các nhà lãnh đạo khu vực kêu gọi thế giới khẩn cấp cắt giảm phát thải và tăng hỗ trợ tài chính khí hậu…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Theo số liệu từ Bộ Xây dựng, cả nước có khoảng 6.188 căn nhà do tổ chức, cá nhân nước ngoài sở hữu và đã được cấp Giấy chứng nhận; riêng từ khi Luật Nhà ở 2023 có hiệu lực, ghi nhận 1.519 căn hộ chung cư. Thực tế này đặt ra vấn đề tổ chức thị trường chỗ ở như thế nào để đáp ứng đúng nhu cầu, bảo đảm quyền hợp pháp và nâng cao sức cạnh tranh của đô thị.