Ngành cơ khí đang có tốc độ tăng trưởng cao trong nhóm công nghiệp trọng điểm của TP. Hồ Chí Minh. Theo số liệu 9 tháng năm 2026 từ Cục Thống kê Thành phố, chỉ số sản xuất công nghiệp tiếp tục duy trì xu hướng tích cực trong quý 3, nâng mức tăng chung lên 10,9% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, sản xuất ngành cơ khí tăng 14,7% so với cùng kỳ và dự kiến cả năm tăng khoảng 19,1%. Động lực tăng trưởng đến từ nhu cầu máy móc, thiết bị phục vụ sản xuất, xây dựng và đặc biệt là các dự án đầu tư hạ tầng đang được triển khai trên địa bàn.
Phía trước ngành cơ khí là một thị trường có quy mô ngày càng lớn khi TP.Hồ Chí Minh đặt mục tiêu đến năm 2030 hoàn thành khoảng 200 km đường sắt đô thị (metro), cùng với hệ thống giao thông kết nối, logistics và nhiều công trình hạ tầng khác.
Vấn đề được đặt ra là khả năng doanh nghiệp cơ khí trong nước chiếm được bao nhiêu giá trị trong thị trường đó.
Với quy mô đầu tư hạ tầng ngày càng lớn, nhu cầu về kết cấu, thiết bị, máy móc, linh kiện, phụ tùng và các sản phẩm cơ khí phụ trợ cũng mở rộng theo. Đặc biệt, hệ thống metro tạo ra một hệ sinh thái nhu cầu kéo dài từ xây dựng, kết cấu đến cơ điện, thiết bị vận hành, bảo trì và các sản phẩm phụ trợ.
Đây là dư địa để doanh nghiệp cơ khí TP.Hồ Chí Minh mở rộng thị trường, thay vì chỉ phụ thuộc vào các đơn hàng sản xuất truyền thống. Thực tế tăng trưởng của ngành trong 9 tháng năm 2026 cho thấy một phần nhu cầu mới đã bắt đầu chuyển thành sản lượng. Trong đó, sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn, máy móc thiết bị và các nhóm sản phẩm cơ khí khác đều ghi nhận mức tăng khá cao.
Tuy nhiên, đặc điểm của các dự án hạ tầng lớn là yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng, tiến độ và khả năng cung ứng đồng bộ cao hơn nhiều so với những đơn hàng gia công thông thường. Điều này tạo ra một phép thử mới đối với năng lực của doanh nghiệp cơ khí thành phố.
Nếu chỉ tham gia ở những công đoạn gia công, kết cấu hoặc cung cấp sản phẩm đơn lẻ, doanh nghiệp có thể tăng doanh thu nhưng chưa chắc tạo được bước tiến tương ứng về công nghệ. Giá trị lớn hơn nằm ở khả năng trở thành nhà cung ứng ổn định cho các doanh nghiệp đầu chuỗi, tham gia vào thiết kế, chế tạo cụm thiết bị, tích hợp hệ thống và sau đó tiến tới làm chủ những sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao hơn.
Đây cũng là lý do đường sắt được đưa vào nhóm ngành ưu tiên trong Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2026 - 2030, cùng với cơ khí và tự động hóa, thiết bị năng lượng, ô tô và công nghiệp công nghệ cao.
Một điểm đáng chú ý trong định hướng mới của TP.Hồ Chí Minh là không chỉ đặt mục tiêu tăng số lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, mà lấy tỷ lệ nội địa hóa và khả năng tham gia chuỗi cung ứng làm một trong những thước đo quan trọng.
Theo chương trình được Thành phố phê duyệt tại Kế hoạch xây dựng các chuỗi liên kết doanh nghiệp theo cụm ngành, chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh đến năm 2030 (Kế hoạch số 217/KH-UBND ngày 25/5/2026), đến năm 2030 tỷ lệ nội địa hóa ngành cơ khí chế tạo được đặt mục tiêu trên 40%. Thành phố đồng thời hướng tới hình thành mạng lưới doanh nghiệp đủ năng lực trở thành nhà cung ứng cấp 1, cấp 2 trong các chuỗi cung ứng; từng bước nâng khả năng làm chủ nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng và thiết bị đầu vào.
Mục tiêu này khiến những dự án hạ tầng lớn trở thành một thị trường có ý nghĩa khác với ngành cơ khí. Đây không chỉ là nơi tạo thêm đơn hàng, mà còn có thể trở thành “bài kiểm tra” để doanh nghiệp nâng cấp năng lực.
Muốn đi sâu hơn, doanh nghiệp phải đáp ứng được những tiêu chuẩn khắt khe hơn về chất lượng, quản trị sản xuất, truy xuất, thời gian giao hàng và khả năng cung ứng ổn định. Quan trọng hơn, doanh nghiệp phải chuyển từ tư duy nhận gia công sang phát triển sản phẩm, đầu tư nghiên cứu và phát triển, tự động hóa và thiết kế.
Đối với thành phố, bài toán cũng không chỉ là tạo điều kiện để doanh nghiệp cơ khí tiếp cận các dự án lớn, mà phải hình thành được cơ chế kết nối giữa doanh nghiệp đầu chuỗi với nhà cung ứng trong nước, từ xác định nhu cầu nội địa hóa, tiêu chuẩn kỹ thuật đến hỗ trợ doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu của dự án.
Đây là hướng đi phù hợp với chương trình công nghiệp hỗ trợ mới, trong đó TP.Hồ Chí Minh đặt mục tiêu nâng tỷ lệ nội địa hóa công nghiệp thêm 5 - 10% mỗi năm và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng năng lực công nghệ, quản trị để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.
Khi hàng loạt dự án metro và hạ tầng được triển khai, thị trường cho cơ khí sẽ còn tiếp tục mở rộng. Nhưng với ngành cơ khí TP.Hồ Chí Minh, giá trị lớn nhất của làn sóng đầu tư này sẽ không chỉ nằm ở số lượng đơn hàng nhận được, mà ở việc doanh nghiệp có thể biến những đơn hàng đó thành năng lực sản xuất, công nghệ và vị trí cao hơn trong chuỗi giá trị.
Du lịch nông thôn cần chuyển từ khai thác tài nguyên đơn lẻ sang xây dựng chuỗi giá trị liên kết nông nghiệp, văn hóa, sản phẩm OCOP và dịch vụ, trong đó cộng đồng là chủ thể và được hưởng lợi từ quá trình phát triển...
Chiến lược phát triển ngành sữa Việt Nam đặt mục tiêu tự chủ nguồn cung và nâng cao sức cạnh tranh, đưa các giải pháp từ quy hoạch vùng nguyên liệu đến minh bạch hóa thị trường vào thực tiễn...
Với tỷ trọng xuất khẩu qua thương mại điện tử năm 2025 mới chỉ đạt 0,48% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, dư địa phát triển xuất khẩu qua kênh này còn rất lớn. Nhưng nghịch lý, số doanh nghiệp đầu tư bài bản cho xuất khẩu xuyên biên giới rất ít, còn thiếu tự tin…
Việc Malaysia công nhận 5 tổ chức, doanh nghiệp cấp chứng nhận Halal của Việt Nam mở ra cơ hội lớn cho hàng hóa trong nước tiếp cận thị trường này, đồng thời thâm nhập sâu vào chuỗi cung ứng Hồi giáo toàn cầu...
Thực trạng lao động “thừa thầy thiếu thợ”, khoảng cách lớn giữa chương trình đào tạo và yêu cầu thực tiễn đang đặt ra bài toán cấp bách cho sự phát triển của Thủ đô…
Giới chuyên gia đánh giá năm 2026 là thời điểm bản lề đối với thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Việc Nhà nước đang đẩy mạnh cải cách thể chế, chính sách để tháo gỡ rào cản về visa, thị thực, thời hạn… sẽ tạo ra các cơ hội, sức hút tốt cho khách du lịch.
Bà Mariam J. Sherman, Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, Campuchia và CHDCND Lào, cho rằng cần xây dựng chính sách hướng tới nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư, giúp giảm chi phí vay không chỉ cho Nhà nước mà cả những doanh nghiệp Việt Nam chịu ảnh hưởng từ xếp hạng tín nhiệm quốc gia.